Thứ Sáu, 8 tháng 10, 2010

Đơn vị đo lường và Cách qui đổi giá vàng thế giới và vàng trong nước.

Đơn vị đo lường và Cách qui đổi giá vàng thế giới và vàng trong nước.

Nguồn từ: BillBuck (tổng hợp)
Các đơn vị đo lường của Vàng:
Trong ngành kim hoàn ở Việt Nam, khối lượng của vàng được tính theo đơn vị là cây (lượng hay lạng) hoặc là chỉ. Một cây vàng nặng 37,50 gram. Một chỉ bằng 1/10 cây vàng. Trên thị trường thế giới, vàng thường được tính theo đơn vị là ounce hay troy ounce. 1 ounce tương đương 31.103476 gram.
- Tuổi vàng (hay hàm lượng vàng) được tính theo thang độ K (karat). Một Karat tương đương 1/24 vàng nguyên chất. Vàng 9999 tương đương với 24K. Khi người ta nói tuổi vàng là 18K thì nó tương đương với hàm lượng vàng trong mẫu xấp xỉ 75%. Vàng dung trong ngành trang sức  thông thường còn gọi là vàng tây có tuổi khoảng 18K.
  • Thị trường vàng thế giới
    • Đơn vị yết giá (thông thường): USD/ounce
    • 1 ounce = 1 troy ounce = 0.83 lượng
    • 1lượng = 1.20556 ounce
  • Thị trường vàng trong nước
    • Đơn vị yết giá: VND/lượng
    • Công thức chuyển đổi giá vàng thế giới (TG) sang giá vàng trong nước (TN):
 Vàng trong nước (TN) = (TG + phí vận chuyển)* 1.20556 * (1+ thuế NK)* tỉ giá USD/VND + phí gia công
Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến giá vàng thế giới và giá vàng trong nước
       Các yếu tố ảnh hưởng đến giá vàng thế giới:
    • Sự biến động của giá đô la Mỹ - lãi suất tiền gởi của Mỹ.
    • Sự biến động của giá dầu.
    • Mức độ lạm phát của nền kinh tế Mỹ.
    • Một số chỉ số của nền kinh tế Mỹ.
       Các yếu tố ảnh hưởng giá vàng trong nước:
    • Giá vàng trên thế giới.
    • Cung cầu của các nhà đầu tư và thị trường trang sức.
    • Chính sách về vàng của các ngân hàng, công ty vàng bạc đá quý lớn.
 Vì sao đầu tư vào thị trường Vàng?
Có nhiều nguyên nhân để ngày nay vàng trở thành một công cụ đầu tư hiệu quả. Trong đó, các nguyên nhân được đánh giá là quan trọng nhất bao gồm:
  • Vàng là một công cụ đầu tư truyền thống của người Việt Nam. Trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, từ trước mùa xuân năm 1975, có lẽ chưa lúc nào, Việt Nam được bình yên trong một vài thế kỷ. Chiến tranh nối tiếp chiến tranh, hết ngoại xâm này lại đến ngoại xâm khác. Do đó, việc lưu dữ tiền luôn ẩn chứa những rủi ro bất trắc. Chỉ có vàng là loại tài sản được xem là có giá trị bất biến với thời gian – dù trong chế độ nào thì vàng vẫn luôn là vàng. Vàng cũng được dùng làm chuẩn đo giá trị của những tài sản lớn khác. Nếu dùng khái niệm tiền để định giá sản phẩm thì những người ở giai đoạn lịch sử khác nhau sẽ không hiểu nhau. Nếu nói ngôi nhà này trị giá bao nhiêu đồng tiền Đông Dương thì chỉ có những cụ già bảy mươi tuổi mới hiểu. Nhưng nói căn nhà giá trị 100 cây vàng thì thế hệ nào cũng hiểu được, đây là một trong những lý do để vàng trở thành phương tiện đo lường và trao đổi từ thế kỷ này sang thế kỷ khác.
  • Vàng không chỉ là một loại hàng hóa đơn thuần như những loại hàng hóa khác, vàng còn là một loại tiền tệ đặc biệt dùng để trao đổi trong hơn 5,000 năm nay. Bên cạnh đó, không giống như những đồng tiền trên thị trường như Đô la Mỹ, đồng Euro, đồng Yên, đô la Úc,… những đồng tiền này thường gắn liền và được kiểm soát bởi chính phủ của đồng tiền nước đó và nền kinh tế của nước đó. Sự tăng giảm nền kinh tế sẽ ảnh hưởng đến giá trị đồng tiền đó. Trong khi đó, vàng và bạc là một loại đồng tiền đặc biệt bởi hai loại hàng hóa này mang tính chất của một công cụ trao đổi nhưng lại không chịu sự kiểm soát hay ảnh hưởng bởi nền kinh tế cụ thể nào. Chính điều này giữ giá trị của vàng lâu dài hơn so với các đồng tiền khác.
  • Chính tính chất như một loại hàng hóa của vàng cũng đem lại cho vàng một sức hút hấp dẫn trong vai trò là công cụ đầu tư chống lạm phát. Kinh tế ngày càng phát triển, chỉ số lạm phát ngày càng tăng và vàng sẽ là công cụ đầu tư giữ được giá trị cao nhất.
  • Trong bối cảnh tình hình chính trị bất ổn, vàng cũng là loại tài sản tích trữ duy nhất bởi giá trị của các đồng tiền có thể thay đổi theo diễn biến chính trị. Trong khi đó, vàng luôn giữ được giá trị của mình dưới bất kì hoàn cảnh nào. Đó cũng chính là lí do vì sao giá vàng luôn tăng cao khi chính trị leo thang.
  • Một lí do nữa khiến nhiều nhà đầu tư ngày nay chú ý đến vàng là do việc dự trữ vàng ngày càng tăng của ngân hàng Trung ương các quốc gia trên thế giới. Tại nhiều quốc gia trên thế giới, các ngân hàng trung ương đang đưa vàng vào danh mục dự trữ của mình thay cho việc dự trữ đô la Mỹ truyền thống trước đây.
  • Và mọi người ai cũng biết rằng, việc khai thác vàng ngày càng hạn chế bởi số lượng vàng trong các mỏ vàng ngày càng giảm. Chính điều này đã làm cho giá vàng biến động mạnh nhưng luôn đi theo chiều hướng tăng dài hạn. 
  • Một số trang web thông khảo thông tin cho các nhà đầu tư Vàng
1.      Nhóm trang web tiếng Việt :www.eximbank.com.vn , www.scb.com.vn , www.sacombank.com.vn
2.      Nhóm trang web tiếng Anh :
- Các trang web tham khảo giá: www.netdania.com; www.saxobank.com;
- Các trang web tham khảo thông tin: www.reuters.com; www.bloomberg.com; www.thebulliondesk.com; www.easy-forex.com;
Nguồn từ: BillBuck (tổng hợp)
Chúc mọi người thành công. 
Hãy để lại lời góp ý của mình bằng cách Click vào nhận xét, sau đó để lại lời góp ý, (có thể chọn 1 hộp thư để đăng ký hoặc chọn mục Nặc danh các bạn nhé).


Tiền và vai trò của tiền tệ trong thị trường

Tiền và vai trò của tiền tệ trong thị trường

Nguồn từ: Wikipedia.org (Tổng hợp)

Tiền là một chuẩn mực chung để có thể so sánh giá trị của các hàng hóa và dịch vụ.
Thông qua việc chứng thực các giá trị này dưới dạng của một vật cụ thể (thí dụ như tiền giấy hay tiền kim loại) hay dưới dạng văn bản (dữ liệu được ghi nhớ của một tài khoản) mà hình thành một phương tiện thanh toán được một cộng đồng công nhận trong một vùng phổ biến nhất định.
Một phương tiện thanh toán trên nguyên tắc là dùng để trả nợ. Khi là một phương tiện thanh toán tiền là phương tiện trao đổi chuyển tiép vì hàng hóa hay dịch vụ không thể trao đổi trực tiếp cho nhau được.
Người ta cũng có thể nhìn tiền như là vật môi giới, biến việc trao đổi trực tiếp hàng hóa và dịch vụ, thường là một trao đổi phải mất nhiều công sức tìm kiếm, thành một sự trao đổi có 2 bậc.
Tiền thường được nghiên cứu trong các lý thuyết về kinh tế quốc dân nhưng cũng được nghiên cứu trong triết học và xã hội học.

Định nghĩa
Nói một cách chặt chẽ thì tiền chỉ là những gì mà luật pháp bắt buộc phải công nhận là một phương tiện thanh toán. Đó thường là các tờ giấy hay các đồng kim loại có ghi giá trị mà tất cả mọi người phải chấp nhận như là một phương tiện thanh toán và cũng được gọi là tiền mặt. Chi phiếu và tiền gửi không kỳ hạn cũng mang chức năng tiền. Thế nhưng tiền gửi không kỳ hạn lại được tính vào lượng tiền tệ vì chúng chỉ là văn bản chứng nhận một yêu cầu về tiền. Yêu cầu này không phải là tiền vì ngân hàng không bắt buộc phải lưu trữ toàn bộ các tiền gửi không kỳ hạn bằng tiền mặt.

Hình thành

Tiền hình thành như mà một phương tiện trao đổi đa năng để đơn giản hóa thương mại. Nếu như trước kia tiền thường được kiên kết với các phương tiện trao đổi hiện thực có giá trị thí dụ như đồng tiền bằng vàng thì tiền ngày nay thông thường là từ vật liệu mà chính nó không có giá trị (tiền giấy). Trong trao đổi quốc tế người ta gọi các loại tiền khác nhau là tiền tệ. Giá trị của tiền hình thành từ trị giá đối ứng mà tiền đại diện cho chúng. Ngày xưa vàng và bạc là các vật bảo đảm giá trị của tiền tại châu Âu. Ngày nay việc này không còn thông dụng nữa và tiền là tượng trưng cho giá trị của hàng hóa mà người ta có thể mua được. Chính vì thế mà khi đưa thêm tiền giấy hay tiền kim loại vào sử dụng thì tổng giá trị của tiền lưu thông trong một nền kinh tế không được nâng cao thêm mà chỉ dẫn đến lạm phát.

Nguồn gốc và lịch sử của tiền
Tối ưu hóa thương mại

Người ta tin rằng đầu tiên hàng hóa và các dịch vụ được trao đổi trực tiếp với nhau (thương mại trao đổi). Vì điều này không thực dụng nên hàng hóa và dịch vụ được trao đổi với các loại hàng hóa khác mà có thể được tiếp tục trao đổi một cách dễ dàng. Loại hàng hóa là tiền này là những vật có giá trị đẹp hay hữu ích như bò, lạc đà, lông súc vật, dao, xẻng, vòng trang sức, đá quý, muối và nhiều loại khác. Khi người ta khám phá ra rằng một số vật không còn được sử dụng nữa mà chỉ được tiếp tục trao đổi thì các bản sao chép nhỏ hơn và ít có giá trị hơn của các vật này được sử dụng làm phương tiện thanh toán. Thuộc về các loại hàng hóa trở thành tiền là các vỏ sò, mà một số loại đã còn được sử dụng tại châu Phi, Nam Á và trên các quần đảo Polynesia cho đến giữa thế kỷ 20. Tại Tây Tạng người ta cũng còn thường hay trả bằng lúa mạch cho đến khi người Trung Quốc tiến quân vào năm 1950.

Đó là các hình thức thanh toán đầu tiên trước khi có tiền. (Tiền trong tiếng La tinh là pecunia bắt nguồn từ pecus có nghĩa là con bò vì đồng tiền kim loại đầu tiên của La Mã tượng trưng cho giá trị của một con bò.) Khả năng có thể đếm được, dễ bảo toàn, dễ vận chuyển đã đóng một vai trò quan trọng trong việc lựa chọn vật liệu cũng như khả năng có thể giữ được giá trị. Các thỏi hay sợi dây bằng đồng thiếc hay bạc đáp ứng được các yêu cầu này vì có giá trị bền vững và có thể bảo toàn dễ dàng.

Các đồng tiền kim loại đầu tiên được người Lydia ở phía Tây của Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay đúc từ vàng, trong thời gian giữa 640 và 600 TCN, có nhiều kích thước và giá trị khác nhau và được dùng như là một phương tiện thanh toán để đơn giản hóa việc trả lương cho những người lính đánh thuê. Một lượng nhất định của các hạt bụi vàng được nấu chảy thành đồng tiền và sau đó hình của nhà vua được dập nổi lên trên. Nhà vua người Lydia cuối cùng, Croesus, vì thế mà mang danh là giàu có vô hạn. Các đồng tiền kim loại này đã làm cho việc thương mại dễ dàng đi rất nhiều vì chúng có ưu điểm là bao giờ cũng có kích thước, trọng lượng và hình dáng không thay đổi và thay vì là phải cân thì có thể đếm được.

Các chỉ trích và phê phán về thuyết cho rằng tiền hình thành từ thương mại trao đổi xuất phát từ những người đại diện cho Chủ nghĩa Nợ (tiếng Anh: Debitism), đặc biệt là Paul C. Martin. Lý luận được đưa ra là sử dụng một vật trao đổi thứ ba trước tiên là sẽ làm cho việc trao đổi phức tạp thêm. Từ một giao dịch biến thành hai giao dịch. Điều quyết định chính là chức năng của tiền, dùng để nối tiếp thời gian giữa nhu cầu cần dùng hàng hóa A và sự sản xuất hàng hóa B. Vì thế mà tiền ngay từ đầu không phải là hàng hóa và cũng không phải là một vật trao đổi mà là dấu hiệu cho một mối quan hệ nợ.

Tiền kim loại
Mãi cho đến trong thế kỷ 18 giá trị của các loại tiền tệ của châu Âu được định nghĩa thông qua lượng kim loại quý. Bên cạnh việc theo dõi sản xuất trong nước, các xưởng đúc tiền quốc gia còn theo dõi cả việc đúc tiền của nước ngoài. Một tiền tệ được đánh giá quá cao hay quá thấp khi đồng tiền được tính trên hay dưới giá trị của kim loại trong lúc tính toán với các tiền tệ khác trên thế giới.

Việc cố tình mài mòn đồng tiền để lấy bớt đi kim loại đã tạo nên nhiều vấn đề rất lớn trong việc sử dụng tiền kim loại. Việc giá trị của các kim loại quý biến động khi so sánh với nhau còn mang lại nhiều vấn đề lớn hơn. Giá trị của các loại tiền tệ khác nhau, bao gồm các đồng tiền bằng vàng, bạc và đồng, không thể giữ ổn định khi so sánh với nhau được. Bạc được mang ra khỏi Tây Ban Nha và Anh vì các thương gia người Tây Ban Nha và người Anh đánh giá các đồng tiền vàng cao hơn một ít so với các đối tác thương mại quốc tế của họ, tạo thành một vấn đề lan rộng khắp trong thương mại quốc tế: Ở châu Á người ta lại không thấy có lý do gì để đánh giá vàng cao hơn như ở châu Âu. Vì thế mà bạc được mang đến châu Á để đổi lấy vàng. Giải pháp cho vấn đề này trong đầu thế kỷ 18 tại Anh là loại tiền tệ về nguyên tắc dựa trên vàng, Ngân hàng Quốc gia Anh (Bank of England) bảo đảm sẽ trả cho người sở hữu đồng tiền Anh quốc giá trị tương ứng với giá trị của vàng trên thị trường tại mọi thời điểm. Các vấn đề của cuộc cải cách này có thể nhìn thấy ngay trước mắt: Làm sao có thể bảo đảm là ngân hàng không phát hành tiền nhiều hơn là số lượng tiền được bảo chứng bằng vàng của ngân hàng? Trong thập niên 1730 đã có một cuộc khủng hoảng tín nhiệm và Ngân hàng Quốc gia Anh chỉ được cứu thoát khi giới đại thương nghiệp của Luân Đôn sẵn sàng gánh vác lấy sự bảo đảm này. Về mặt khác các thủ đoạn gian lận trong tiền kim loại và biến động giá trị giữa các loại tiền kim loại trong nước không còn nữa.

Mãi cho đến trong thế kỷ 19 một số tiền tệ thí dụ như Đô la Mỹ vẫn được bảo chứng bằng vàng và cho đến ngày hôm nay việc hủy bỏ bảo chứng vàng cũng không phải là một điều tất nhiên.

Sử dụng tiền và các chức năng của tiền
Nếu một người có tiền thì có thể dùng tiền để làm những việc sau đây:
    Tiêu tiền (tiêu thụ, phương tiện thanh toán)
    Gửi tiền để lấy tiền lãi (đầu tư)
    Đổi lấy một loại tiền tệ khác (trao đổi)
    Trữ tiền (bảo toàn giá trị)

Tổng số tiền trong lưu hành phản ánh sự phân chia của sản phẩm quốc gia: Lượng tiền mà một người sở hữu tương ứng với lượng sản phẩm quốc gia mà người đó có thể có khi tiêu dùng lượng tiền sở hữu.

Chức năng là phương tiện thanh toán
Trong một nền kinh tế không có một chuẩn mực đo giá trị chung (thí dụ như là tiền) thì một giao dịch thành công giữa 2 vật trong kinh tế đòi hỏi các nhu cầu trao đổi phải phù hợp với nhau. Một thí dụ: Một người nông dân muốn bán ngũ cốc và cần dụng cụ. Một thợ thủ công muốn đổi dụng cụ để lấy thịt. Giữa 2 người này sẽ không bao giờ có một cuộc mua bán trao đổi vì ý định bán của người nông dân không phù hợp với ý định mua của người thợ thủ công. Cả hai người có thể phải tìm kiếm rất lâu cho đến khi gặp được một người có ý định giao dịch phù hợp. Cùng với tiền quá trình này được đơn giản hóa đi rất nhiều: Người nông dân có thể bán ngũ cốc cho một người thứ ba và dùng tiền thu được dể đổi lấy dụng cụ tại người thợ thủ công. Người thợ thủ công có thể dùng tiền thu được mua thịt tại một người thứ tư.

Chức năng là phương tiện tính toán
Khi tiền là một chuẩn mực chung để đo giá trị thì tất cả các giá cả của một nền kinh tế có thể được thể hiện bằng đơn vị tiền tệ. Trong một nền kinh tế với 1 triệu loại hàng hóa khác nhau khi so sánh giá trị trao đổi của mỗi hai loại hàng hóa một sẽ có vào khoảng 500 tỉ giá tương đối khác nhau (thí dụ: 1 giờ lao động = 5 bánh mì; 1 giờ lao động = 1 cái áo; 1 giờ lao động = 1kg thịt; 5 bánh mì = 1 cái áo; 1 cái áo = 1 kg thịt,...). Khi sử dụng tiền như là một chuẩn mực giá trị chung thì chỉ còn 1 triệu tỷ lệ trao đổi (5 đơn vị tiền = 1 giờ lao động = 5 bánh mì = 1 cái áo = 1 kg thịt =...), vì thế mà khi so sánh giá cả không còn phải tốn nhiều công sức nữa.

Chức năng bảo toàn giá trị
Một phương tiện thanh toán phải giữ được giá trị của nó. Vì thế mà hầu như chỉ là các loại hàng hóa không hư hỏng mới được thỏa thuận là "tiền" (thí dụ như là vàng hay kim cương). Nếu tiền không tồn tại thì một người nông dân chỉ có khả năng trao đổi ngũ cốc để lấy các hàng hóa khác cho đến khi ngũ cốc này bị hư hỏng. Vì thế mà người nông dân tốt nhất là nên trao đổi ngũ cốc sớm để đổi lấy tiền "không bị hư hỏng". Điều này còn được gọi là chức năng bảo toàn giá trị hệ quả (consecutiv). Chức năng bảo toàn giá trị tạo thành (constitutiv) là chức năng tạo tài sản từ tiền bằng cách cất giữ, tức là giữ tiền duy nhất chỉ vì muốn bảo toàn giá trị.

Cung cấp tiền
Quá trình cung cấp tiền ngày nay
Trên lý thuyết có thể phân biệt hai loại tiền khác nhau. Loại thứ nhất là tiền của ngân hàng quốc gia, do ngân hàng quốc gia phát hành hay tiêu hủy, tiền mặt thuộc về loại tiền này. Loại thứ hai là tiền xuất phát từ các ngân hàng thương mại mà chính xác thì chỉ là các yêu cầu thanh toán tiền (các khoản phải thu). Phương cách cung tiền thông dụng nhất là cho vay.

Các ngân hàng thương mại cung cấp tiền bằng cách cho khách hàng vay tiền. Sau khi chấp nhận cho khách hàng vay tiền, ngân hàng sẽ ghi khoản tiền này vào tài khoản của khách hàng và người vay có thể chuyển khoản số tiền này đến các khách hàng khác của ngân hàng hay đến khách hàng củacác ngân hàng khác. Tiền được tạo thành thông qua chu trình này vì một mặt tiền được đưa vào lưu hành nhưng về mặt khác chỉ hình thành yêu cầu thanh toán của ngân hàng đối với người vay và chỉ là một mục của các khoản phải thu trong bản cân đối kế toán của ngân hàng. Ngược lại khi hoàn trả nợ thì tiền được tiêu hủy đi vì tiền quay về ngân hàng và món nợ được thanh toán.

Vì khoản tiền vừa được tạo thành lại có thể là cơ sở để tạo thành các khoản tiền khác nên trên lý thuyết không có giới hạn tối đa cho các khoản tiền do ngân hàng tạo thành. Để kiểm soát quá trình này ngoài các quy định cân đối kế toán (nợ quá mức, bảo chứng vốn tự có) còn có dự trữ tối thiểu bắt buộc, tức là các ngân hàng thương mại phải ký thác tại ngân hàng quốc gia một tỷ lệ nhất định của số tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng.

Khi vốn tự có của ngân hàng cộng với tiền gửi của khách hàng không đủ để có thể cho vay nhiều như ý muốn ngân hàng thương mại có thể vay tiền từ ngân hàng quốc gia, người ta gọi đó là tái cấp vốn.

Ngân hàng quốc gia cũng có thể tạo thêm tiền mà không cần phải cho vay, thí dụ như bằng cách mua ngoại tệ, kim loại quý hay chứng khoán. Ngoài công cụ này ra ngân hàng quốc gia còn có thể chủ động mua trái phiếu hay cho ngân hàng thương mại vay. Việc cho chính phủ vay tiền đã bị cấm trong vùng Euro từ bước thứ 2 của Liên minh Tiền tệ châu Âu trong năm 2004, tức là nhà nước không được phép vay tiền của ngân hàng quốc gia. Tại Mỹ thì lại khác: Thí dụ như vào ngày 17 tháng 11 năm 2004 mục "U.S. Treasury" (trái phiếu của ngân khố Mỹ) đã chiếm đến 89,3% tổng tài sản của Cục dự trữ Liên bang Mỹ (FED). Nói một cách khác đồng Đô la Mỹ được "bảo chứng" gần như hoàn toàn bằng nợ quốc gia của chính phủ Mỹ.

Để một khách hàng của ngân hàng có thể thanh toán các giao dịch bằng tiền ở bên ngoài hệ thống ngân hàng, ngân hàng quốc gia in tiền giấy và các ngân hàng có thể "vay" (đúng ra là "mua" cùng với một thỏa thuận mua lại của ngân hàng quốc gia) để trả cho khách hàng (tiền mặt). Ngân hàng quốc gia đưa ra một lãi suất nhất định khi đưa tiền cho các ngân hàng thương mại, gọi là lãi suất cơ bản .

Toàn bộ hệ thống tiền tệ có thể được miêu tả dưới dạng của một bản cân đối kế toán. Ở một bên là tiền trong lưu hành, bên kia là các khoản nợ tương ứng, dự trữ vàng và tiền cộng với chứng khoán thuộc về sở hữu của ngân hàng quốc gia. Mỗi một khoản tiền có trong tài khoản và mỗi một tờ tiền giấy đều tương ứng với một mục nợ (khoản phải thu) hay là một mục tài sản trong bản cân đối kế toán của ngân hàng quốc gia.

Thị trường tiền
Cũng giống như cho hàng hóa và dịch vụ, có thị trường tiền với cung và cầu tồn tại cho việc vay tiền. Các tư nhân và doanh nghiệp có nhu cầu tiền và đồng thời cũng là nguồn cung ứng khi gởi tiền tiết kiệm vào ngân hàng. Hệ thống ngân hàng là người môi giới giữa 2 nhóm này và vì thế làm cho thị trường có hiệu quả hơn vì người tiết kiệm tiền và người muốn vay tiền không phải tự tìm kiếm cho từng giao dịch nữa. Ngân hàng lấy tiền công cho dịch vụ này bằng hiệu số giữa lãi suất tiết kiệm và lãi suất cho vay. Lãi suất hình thành từ thị trường này được quyết định bởi cung và cầu và trên nguyên tắc chính là giá phải trả cho việc mượn tiền.

Ngân hàng quốc gia có thể tạo ảnh hưởng lên thị trường tiền bằng cách hoặc là gián tiếp tác động đến cung và cầu thông qua lãi suất dành cho tiền của ngân hàng quốc gia hoặc là chủ động tạo ảnh hưởng đến việc cung ứng tiền trong khuôn khổ của chính sách gọi là chính sách thị trường mở. Trong chính sách này ngân hàng quốc gia mua một số chứng khoán nhất định và trả bằng tiền của ngân hàng quốc gia. Tiền được đưa thêm vào trong hệ thống lưu hành. Ngược lại ngân hàng quốc gia cũng có thể bán chứng khoán và qua đó mà lấy tiền ra khỏi hệ thống. Lãi suất dành cho tiền của ngân hàng quốc gia hay dành cho tiền gửi tại ngân hàng quốc gia chỉ ảnh hưởng gián tiếp đến thị trường tiền vì chỉ khuyến khích các ngân hàng thương mại cho vay tiền hay gửi tiền tại ngân hàng quốc gia.

Fiat Money
Fiat money dùng để chỉ tiền do một người phát hành mà không có cơ sở bảo chứng đầy đủ, tức là hoặc là bảo chứng không toàn bộ hay lặp thừa (tautologic).

    - Một bảo chứng là không toàn bộ khi nhận lại những vật mà giá trị thực tế ít hơn là giá trị trên danh nghĩa.
    - Một bảo chứng là lặp thừa khi những vật nhận lại không có giá trị hay chỉ nhận lại được yêu cầu thanh toán (nợ phải thu) lại dựa trên fiat money.

Fiat money xuất phát từ tiếng La Tinh fiat lux (sẽ có ánh sáng) vì loại tiền như vậy có thể dễ dàng tạo thành khi có nhu cầu (sẽ có tiền) và người tạo ra chúng (thường là ngân hàng quốc gia) không cần phải có hàng hóa để bảo chứng.

Khả năng tạo ra fiat money chỉ tồn tại cho đến chừng nào mà những người tham gia trên thị trường (tư nhân, ngân hàng và các doanh nghiệp khác) cho là tiền phát hành này vẫn có một giá trị nhất định. Những người ủng hộ fiat money cho rằng hình thức tạo nên tiền này không mang lại nguy hiểm cho kinh tế (vì người phát hành phải có một độ đáng tin cậy cao) trong khi những người chỉ trích lại nhìn thấy đây là một phương thức làm giàu không công bằng của chính phủ.

Lượng tiền tệ
Khái niệm "tiền" không gắn liền với một vật nhất định. Một vật được định nghĩa là tiền khi thỏa mãn 3 chức năng tiền nói trên. Vì các vật khác nhau thỏa mãn các chức năng trên ở các mức độ khác nhau nên khó có thể xác định ranh giới giữa những gì là tiền và những gì không phải là tiền. Vì lý do này các ngân hàng quốc gia định nghĩa khái niệm tiền và lượng tiền theo nhiều cách khác nhau.
Lượng tiền M0 là tiền do ngân hàng quốc gia tạo nên, bao gồm các khoản tiền gửi không kỳ hạn của các ngân hàng tại ngân hàng quốc gia và tiền giấy cũng như tiền kim loại trong lưu hành. Lượng tiền này chịu ảnh hưởng trực tiếp của ngân hàng quốc gia.
Lượng tiền M1 bao gồm các tiền có thể sử dụng làm phương tiện thanh toán tức là tiền mặt và các tiền gửi không kỳ hạn.
Lượng tiền M2 bao gồm lượng tiền M1 và các khoản tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn dưới 4 năm.

Lượng tiền M3 bao gồm lượng tiền M2 và các khoản tiền gửi tiết kiệm có thời hạn báo trước theo quy định của pháp luật.

Chính sách tiền tệ
Nói chung các ngân hàng quốc gia thường theo đuổi một mục đích thực tế và cố định khi điều chỉnh lượng tiền. Mục đích này thường là sự bình ổn giá, tức là chống lại lạm phát. Để có thể giới hạn tỷ lệ lạm phát ở một mức độ hợp lý với nền kinh tế quốc dân, ngân hàng quốc gia cố gắng giữ lượng tiền đồng bộ với sự phát triển kinh tế. Lý thuyết lượng tiền (Quantity Theory of Money) đã nêu ra một mối quan hệ trực tiếp giữa tăng trưởng lượng tiền và mức giá cả.

Lạm phát
Lượng tiền tăng quá nhanh hay tốc độ quay vòng của tiền tăng lên trong khi lượng tiền không thay đổi sẽ dẫn đến mất cân bằng giữa tiền đang có và hàng hóa. Sự mất cân bằng này sẽ làm tăng mức giá chung và người ta gọi đó là lạm phát.

Lạm phát có thể được phân loại theo vận tốc (lạm phát vừa phải, lạm phát phi mã, siêu lạm phát) hay theo giai đoạn (giai đoạn tăng tốc – giai đoạn ổn định – giai đoạn giảm tốc). Lượng tiền có thể tăng vì chính sách lãi suất của ngân hàng quốc gia hay vì nợ quốc gia tăng đột ngột.

Giảm phát
Khi lượng tiền giảm đi hay tốc độ quay vòng tiền giảm xuống trong khi lượng tiền không đổi thì giá cả có thể sẽ giảm liên tục trong một thời gian, người ta gọi đó là giảm phát. Lượng tiền giảm đi cũng có thể là do các biện pháp của ngân hàng quốc gia gây ra hay khi vận tốc quay vòng tiền giảm đi (khi người dân và doanh nghiệp hạn chế tiêu dùng và đầu tư hơn và tiền được tiết kiệm nhiều hơn là tiêu dùng).
Nguồn từ: Wikipedia.org (Tổng hợp)
Chúc mọi người thành công. 
Hãy để lại lời góp ý của mình bằng cách Click vào nhận xét, sau đó để lại lời góp ý, (có thể chọn 1 hộp thư để đăng ký hoặc chọn mục Nặc danh các bạn nhé).

Lạm phát là gì ?


Lạm phát là gì ?

Nguồn từ: BillBuck (tổng hợp)

Trong kinh tế học, lạm phát là hiện tượng giảm mãi lực của đồng ...
Điều này cũng đồng nghĩa với “vật giá leo thang”, giá cả hàng hóa, dịch vụ tăng cao khiến với cùng một số lượng tiền, người tiêu thụ mua được ít hàng hóa hơn hoặc phải trả một giá cao hơn để hưởng cùng một dịch vụ. Một khái niệm khác về lạm phát là khối lượng tiền được lưu hành trong dân chúng tăng lên do nhà nước in và phát hành thêm tiền vì những nhu cầu cấp thiết (chiến tranh, nội chiến, thâm thủng ngân sách v.v...). Trong khi đó, số lượng hàng hoá không tăng khiến dân chúng cầm trong tay nhiều tiền quá sẽ tranh mua khiến giá cả tăng vọt có khi đưa đến siêu lạm phát. Những ví dụ cùng cực nhất của siêu lạm phát đã xảy ra tại Đức trong những năm đầu thập niên 1920 khi tỉ lệ lạm phát lên tới 3.25 x 106 mỗi tháng, có nghĩa là giá cả tăng gấp đôi mỗi 49 tiếng đồng hồ hoặc tại Hungary sau Thế chiến thứ hai với tỉ lệ lạm phát 4.19 x 1016 (giá cả tăng gấp đôi mỗi 15 giờ đồng hồ).
Để đo lường tỉ lệ lạm phát, người ta thường dùng hai chỉ số:
• Chỉ số giá cả sản xuất PPI (Producer Price Index).
Đây là chỉ số giá thành sản xuất của một số mặt hàng và dịch vụ tiêu biểu. Mang so sánh với thời kỳ trước để tính ra tỉ lệ tăng giảm như thế nào. Chỉ số PPI tuy có thể là dấu báo hiệu hiện tượng lạm phát nhưng chưa hẳn lạm phát sẽ bắt buộc phải xảy ra.
• Chỉ số giá cả tiêu thụ CPI (Consumer Price Index).
Chỉ số giá cả của một số nhu yếu phẩm và dịch vụ tiêu biểu. Chỉ số CPI cho biết tỉ lệ lạm phát thật sự đang xảy ra khi so sánh với thời kỳ trước đó. Ảnh hưởng của lạm phát đối với nền kinh tế Lạm phát khó có thể là một điều tốt lành cho nền kinh tế trừ trường hợp ở mức độ nhẹ và trong tầm kiểm soát của chính phủ. Ví dụ, hàng năm chính phủ có thể phát hành thêm một lượng tiền mới để tiêu xài cho những chương trình công cộng hoặc giải quyết thiếu hụt ngân sách khiến đồng tiền được xoay vòng tạo ra thêm của cải, trực tiếp đẩy cao tổng sản lượng quốc dân GDP (Gross Domestic Product) lên thêm một mức. Dĩ nhiên nếu quá đà sẽ có nguy cơ gây ra lạm phát nặng hoặc siêu lạm phát và làm các hoạt động kinh tế sẽ bị tê liệt. Nhiều người quan niệm việc chính phủ in thêm tiền trong giới hạn cho phép của nền kinh tế là một hình thức thu “thuế lạm phát”. Chính phủ sử dụng khoản phụ trội này để quân bình ngân sách với hi vọng sang năm kinh tế tiếp tục phát triển sẽ được nộp ngân sách nhiều hơn. Một chút lạm phát cũng khiến doanh nghiệp kiếm thêm lợi nhuận vì thông thường từ khâu nhập nguyên liệu (giá trước lạm phát) đến lúc hoàn thành sản phẩm bán được cao giá hơn cũng tốt thêm cho doanh vụ.
Ngoài những trường hợp kể trên, bao giờ lạm phát cũng có ảnh hưởng xấu đối với kinh tế. Tỉ lệ lạm phát bao nhiêu là vừa phải cũng tùy thuộc vào tình hình phát triển kinh tế của từng nơi, đặc điểm của nền kinh tế của từng quốc gia khác nhau. Theo lẽ thông thường thì tỉ lệ lạm phát nếu giữ được ở mức thấp hơn tỉ lệ phát triển kinh tế thì là điều tốt. Do đó, các quốc gia đang ở giai đoạn kinh tế cất cánh (tỉ lệ phát triển xấp xỉ 10%) có thể chấp nhận một tỉ lệ lạm phát cao hơn các quốc gia đã phát triển (tỉ lệ phát triển dưới 5%).
Nguyên nhân đưa đến lạm phát:
Có nhiều trường phái kinh tế khác nhau đưa ra các lý thuyết về nguyên nhân đưa đến lạm phát, trong số đó trường phái Neo-Keynesian có vẻ được chấp nhận hơn cả với “mô hình tam giác” nói lên ba dạng lạm phát chính và những nguyên nhân của nó:
• Lạm phát do nhu cầu tăng (Demand-pull inflation).
Lạm phát do nhu cầu sản xuất và dịch vụ (gọi chung là Tổng Thu Nhập Quốc Dân GDP) tăng trong khi tỉ lệ thất nghiệp còn thấp. Còn gọi là Phillips Curve - đường cong Phillips. Nói cách khác là khi nhu cầu kinh tế tăng mà thị trường lao động bị hạn chế sẽ gây lạm phát.
• Lạm phát do đột biến giá cả (Cost-push inflation).
Giá cả một số nguyên vật liệu trọng yếu, ví dụ giá dầu hoả, tăng cao bất thường có thể đưa đến lạm phát vì hiện tượng dây chuyền, các mặt hàng khác sẽ tăng theo.
• Lạm phát sẵn có tự nhiên (Built-in inflation).
Lạm phát sẵn có, liên quan đến hiện tượng “vòng xoắn giá/lương” (price/wage spiral) nghĩa là hiện tượng công nhân luôn luôn muốn được trả lương cao hơn (dĩ nhiên rồi), chủ bắt buộc phải trả thêm vì không tìm đâu ra công nhân nữa, kinh tế phát triển nên ai cũng có công ăn việc làm cả rồi. Người chủ muốn chuyển chi phí phụ trội này qua người tiêu thụ nên tăng giá sản phẩm lên. Công nhân, đồng thời là người tiêu thụ, thấy giá lên lại đòi lương cao hơn nữa. Cái vòng luẩn quẩn này cuối cùng gây ra lạm phát. Cả ba dạng này có thể cộng hưởng và tạo ra mức lạm phát hiện hành của nền kinh tế của một quốc gia.

Tác hại của lạm phát đối với kinh tế:
Đối với các quốc gia đang phát triển, tác hại dễ thấy nhất là lạm phát phủ định (negate) tăng trưởng kinh tế nếu bằng hay cao hơn tăng trưởng kinh tế. Ví dụ theo World Factbook, nếu một nền kinh tế tăng trưởng kinh tế ở mức 8.4% nhưng tỉ lệ lạm phát lên tới 8.3%. Như vậy, trung bình người dân có thu nhập cao hơn 8.4% nhưng đời sống sinh hoạt mắc hơn 8.3% cùng thời kỳ thì coi như cũng không tích lũy được gì. Tiêu chuẩn đời sống không được cải thiện bao nhiêu. Nếu không có biện pháp ngăn chận, lạm phát sẽ làm tê liệt dần bộ máy kinh tế vì doanh nhân sẽ không thiết tha hoạt động sản xuất nữa vì không có lợi nhuận. Tâm lý chung sẽ chỉ mua bán “chụp giựt” và chuyển tài sản thành kim loại quý hay ngoại tệ mạnh để tránh lạm phát. Điều này rõ ràng không có lợi cho sự xoay vòng của đồng tiền để phát triển nền kinh tế.
Đối với các quốc gia công nghiệp (industrialized countries) mà xã hội đã chuyển qua dạng xã hội tiêu thụ rồi thì lạm phát tác hại theo một qui trình 3 bước:
-     Lạm phát (inflation)
-          Giảm phát (deflation)
-          Suy thoái kinh tế (economic recession).
Lạm phát không kiểm soát nổi sẽ đưa đến tình trạng giá thành các mặt hàng tăng cao. Giá hàng hóa lên cao sẽ làm giảm nhu cầu tiêu thụ. Hàng hoá trở nên dư thừa và ế ẩm. Để sống còn, công ty sản xuất phải chịu lỗ, hạ giá bán và thu nhỏ hoạt động lại. Một số hãng xưởng sẽ phải đóng cửa và công nhân bị sa thải ra làm nhu cầu chung về tiêu thụ lại càng giảm nữa. Đến đây bắt đầu giai đoạn giảm phát. Hàng hoá sẽ xuống giá cho đến khi nào tìm được một sự quân bình mới giữa cung cầu. Lúc đó kinh tế đi vào giai đoạn suy thoái và tiêu chuẩn sống (standards of livings) của người dân bị giảm sút. Sự tác hại của lạm phát đối với kinh tế sau một thời gian âm ỉ có tính cách bùng nổ như một cơn bệnh cấp tính. Điển hình nhất là cơn đại khủng hoảng kinh tế 1929 tại Mỹ. Chỉ trong một một ngày, giá trị thị trường chứng khoán Mỹ bị mất đi gần một nửa và kinh tế Mỹ bước vào một giai đoạn suy thoái thảm não kéo dài gần hai thập niên sau đó.

Cách chống đỡ lạm phát theo kiểu Mỹ
• Giao quyền hạn cho Cục Dự trữ Liên Bang (Federal Reserves) còn gọi là Ngân Hàng Alan Greenspan - Cái tên gắn liên với FED
• Trung Ương (Central Bank) nhiệm vụ theo dõi tình hình phát triển kinh tế và lạm phát để kịp thời đề ra những biện pháp thích nghi. Vũ khí chính của Cục Dự trữ Liên Bang (FED) là lãi suất cho vay. Khi nào muốn kích thích kinh tế thì giảm lãi xuất xuống. Ngược lại khi thấy có dấu hiệu lạm phát thì tăng lãi xuất, kềm hãm sản xuất lại, không để lạm phát có cơ hội phát triển. Một biện pháp khác của FED là tăng hay giảm lưu lượng (liquidity) đồng dollar đang lưu hành trong dân chúng. Khi cần rút bớt lưu lượng tiền, FED sẽ bán đấu giá trái phiếu kho bạc (bonds) của chính phủ nhiều hơn. Khuynh hướng tự nhiên là sẽ giảm hoạt động kinh tế vì các nhà đầu tư giữ công khố phiếu để lấy lời, không sẵn tiền để hoạt động sản xuất nữa.
Ngược lại khi muốn kích thích kinh tế, FED có thể thu mua trái phiếu và tung thêm tiền vào lưu lượng sẵn có.
• Mở rộng thị trường lao động bằng cách đưa ra nước ngoài (outsource) một số kỹ nghệ không có tính cách quốc phòng.
• Thỏa hiệp giữa các nghiệp đoàn chủ nhân và thợ thuyền về lương để đôi bên cùng có lợi, phần nào ổn định mặt chi phí về lương (cộng thêm phúc lợi có thể chiếm đến ¾ giá thành sản phẩm tại Mỹ).
• Ổn định các khu vực nóng để kiểm soát các nguồn nguyên liệu tối cần thiết như dầu hỏa, than mỏ.
• Giữ gìn trật tự toàn cầu, không để những đột biến chính trị và khủng bố làm mất ổn định khu vực.
Nguồn từ: BillBuck 
Chúc mọi người thành công. 
Hãy để lại lời góp ý của mình bằng cách Click vào nhận xét, sau đó để lại lời góp ý, (có thể chọn 1 hộp thư để đăng ký hoặc chọn mục Nặc danh các bạn nhé).

So sánh Forex và Chứng khoán


So sánh Forex và Chứng khoán

Thị trường Forex gần như hoạt động 24/24. Hầu hết các sàn giao dịch đều mở cửa vào 5:15 chiều chủ nhật giờ EST và kết thúc vào thứ 6, 4h chiều, và dịch vụ chăm sóc khách hàng 24/7. Và giao dịch Forex được thực hiện mọi nơi trên thế giới, trên tất cả các múi giờ. Điều này sẽ giúp bạn có thể tự thiết lập thời gian biểu phù hợp nhất với mình.
 Forex và chứng khoán
Lợi thế
Forex
Chứng koán
Giao dịch 24/24
Không
Đặt lệnh lập tức
Không
Bán trước mua sau
Không
 Giao dịch 24/24
Thị trường Forex gần như hoạt động 24/24. Hầu hết các sàn giao dịch đều mở cửa vào 5:15 chiều chủ nhật giờ EST và kết thúc vào thứ 6, 4h chiều, và dịch vụ chăm sóc khách hàng 24/7. Và giao dịch Forex được thực hiện mọi nơi trên thế giới, trên tất cả các múi giờ. Điều này sẽ giúp bạn có thể tự thiết lập thời gian biểu phù hợp nhất với mình.
Miễn phí dịch vụ
Thường thì người môi giới trong Forex không tính phí dịch vụ hay phí cộng thêm cho mỗi lần đặt lệnh. Sàn giao dịch sẽ chia lại 1 phần hoa hồng trên điểm chênh lệch giữa giá bán và giá mua để chia cho họ. Vì vậy chi phí giao dịch trong Forex thấp hơn hẳn so với các thị trường khác.
Đặt lệnh lập tức                           
Lệnh đặt của bạn sẽ lập tức được thực hiện ngay trong hầu hết các giao dịch. Và bạn cũng có thể cập nhật thông tin liên tục về tỉ giá và về tài khoản của bạn. Những gì bạn nhấp chuột là những gì bạn sẽ đạt. Và sẽ không có sự khác biệt giữa tỉ giá bạn cập nhật và tỉ giá bạn giao dịch như ở trong chứng khoán.
Bán trước mua sau
Không như thị trường tài sản bị hạn chế và không thể bán khống ( bán trước mua sau), tại thị trường Forex bạn có thể kinh doanh cả lúc thị trường lên và lúc thị trường xuống. Cơ hội giao dịch luôn xuất hiện tại mọi thời điểm và chỉ cần nhận biết xu hướng thị trường. Vì vậy bạn luôn có thể quyết định đầu tư và rút ra bất kì lúc nào tại mọi giai đoạn của thị trường.
Ngoài ra còn những lý do sau:
  • Không người trung gian
Việc giao dịch trực tiếp tại các trung tâm tài chính và môi giới đem lại nhiều lợi ích cho người giao dịch, tuy nhiên nó lại có nhược điểm là phải qua khâu trung gian. Càng nhiều đối tượng tham gia giao dịch, chi phí sẽ càng cao , thời gian đặt lệnh giao dịch càng lâu và thủ tục càng phức tạp. Chi phí không chỉ là tiền bạc mà còn là thời gian bỏ ra. Trong thị trường tiền tệ đã loại bỏ các nhân tố trung gian, giúp khách hàng giao dịch trực tiếp trên các phần mềm giao dịch với sàn và đặt lệnh ngay lập tức với những thay đổi từ phía thị trường. Kinh doanh ngoại hối giúp việc giao dịch nhanh chóng và tiết kiệm chi phí trung gian hơn so với chứng khoán và các ngành kinh doanh khác.
  • Việc mua / bán không tác động đến thị trường
Đã bao nhiều lần trong thị trường chứng khoán bạn sốt sắng về những cái tin như “Quĩ A” bán cổ phiếu “X” và mua cổ phiếu “Y”? Tin đồn có thể đem lại lợi nhuận cho 1 thiểu số nhưng gây thiệt hại cho đa số. Hơn nữa cổ phiếu lệ thuộc vào tình hình tài chính của các công ty, và do đó nó cũng lệ thuộc nhiều vào 1 nhóm các “Hội đồng quản trị”. Thị trường chứng khoán lại rất nhạy cảm với các lệnh mua / bán , và cũng không thích hợp với những ai muốn kinh doanh trong ngắn hạn. Trong thị trường Forex do tác động của “dòng chảy tiền tệ”,  khả năng tác động của các ngân hàng hay quĩ tiền tệ rất nhỏ nhoi. Ngân hàng, quĩ đầu tư, chính phủ, nhà đầu cơ và các nhóm giao dịch chỉ là 1 phần nhỏ của thị trường ngoại hối và và “dòng chảy tiền tệ” là không điều khiển được.
  • Các nhà phần tích và môi giới đầu tư ít có ảnh hưởng đến thị trường
Bạn có xem TV thường xuyên? Bạn có quan tâm đến các nhà phân tích và môi giới chứng khoán thường dự báo tình hình thị trường và đưa ra những nhận xét “mua” hay “bán” 1 loại chúng khoán hay không? Cho dù chính phủ đã có nhiều biện pháp hạn chế tác động bên ngoài đến chứng khoán nhưng nó là 1 phần của thị trường và vẫn ảnh hưởng lớn đến tâm lý đầu tư của người giao dịch. Nhưng thị trường Forex, như là 1 thị trường sơ cấp, được sinh ra từ ngân hàng thế giới và ngày càng phình rộng ra với dòng vốn lên đến vài nghìn tỉ USD/ngày, đã mang tầm thị trường toàn cầu. Các chuyên gia  và các nhà phân tích không thể “lèo lái” dòng chảy, và phân tích của họ chỉ mang tính tham khảo trong thị trường này
  • 8,000 loại chứng khoán >< 4 cặp tiền tệ chính
Có xấp xỉ khoảng 4,500 loại chứng khoán được niêm yết trến sàn New York. Và hơn 3,500 loại khác tại NASDAQ. Làm sao để bạn lựa chọn? Dành hết thời gian phân tích từng công ty một? Trong thị trường ngoại hối, bạn có 4 cặp tiền tệ chính giao dịch 24h/ngày và 5.5 ngày/tuần. Bạn hoàn toàn có thể tập trung vào 1 cặp tiền để nghiên cứu và giao dịch.
(theo babypips.com)
Nguồn từ: BillBuck
Chúc mọi người thành công. 
Hãy để lại lời góp ý của mình bằng cách Click vào nhận xét, sau đó để lại lời góp ý, (có thể chọn 1 hộp thư để đăng ký hoặc chọn mục Nặc danh các bạn nhé).

Một số kỹ thuật phân tích cơ bản


Một số kỹ thuật phân tích cơ bản

 ( tổng hợp)

Trên thị trường tài chính, thị trường hối đoái là thị trường có tính thanh khoản cao nhất và doanh số giao dịch lớn nhất, vượt xa doanh số giao dịch của thị trường cổ phiếu và trái phiếu.
Thị trường hối đoái là nơi mà đồng tiền quốc gia này có thể đổi lấy một đồng tiền quốc gia khác. Hiện nay, doanh số mua bán ngoại tệ bình quân một ngày trên thị trường hối đoái quốc tế lên tới trên 1.500 tỷ USD. Đối tượng tham gia thị trường cũng rất đa dạng: Ngân hàng Trung ương, Ngân hàng thương mại, các công ty xuất nhập khẩu, đầu tư nước ngoài, dịch vụ quốc tế, khách du lịch…đặc biệt là có sự tham gia thường xuyên của các nhà môi giới, nhà kinh doanh tiền tệ. Vấn đề quan trọng là chúng ta sẽ bán hoặc mua ngoại tệ khi nào để có thể mang lại hiệu quả cao nhất?
 Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ nước này được đo lường bằng một số lượng đơn vị tiền tệ nước khác. Tỷ giá là loại giá cả rất phức tạp với những biến động rất mạnh và nhanh buổi sáng có thể là 118 JPY/USD, chiều có thể là 120 JPY/USD. Tỷ giá rất nhạy cảm với những yếu tố về kinh tế- chính trị -xã hội- chiến tranh -thiên tai… và cả yếu tố tâm lý.
Trên thị trường tài chính nói chung và thị trường hối đoái nói riêng các chuyên gia thường dùng 2 cách phân tích sau đây để dự báo giá: phân tích kỹ thuật (Technical analysis) và phân tích cơ bản (Fundamental analysis).
 + Phân tích cơ bản (Fundamental analysis) là phương pháp phân tích tập trung vào việc nghiên cứu các lý do hoặc nguyên nhân làm cho giá tăng lên hoặc giảm xuống. Nó chú ý đến các lực lượng tác động đến cung cầu tiền tệ trên thị trường: lãi suất, lạm phát, tăng trưởng kinh tế, xuất nhập khẩu, đầu tư… Ý tưởng của phương pháp này là tiến đến một giá trị dự đoán về giá trị sinh lời tiềm ẩn của một thị trường để xác định xem thị trường được đánh giá cao hơn hoặc thấp hơn giá trị thực. Phần khó nhất của phương pháp này là quyết định xem thông tin nào và bao nhiêu tiền đã được tính vào cơ cấu giá hiện hành. Các lý thuyết chính của phân tích cơ bản là: Lý thuyết đồng giá sức mua (PPP), lý thuyết ngang giá lãi suất (IRP), mô hình cán cân thanh toán quốc tế, mô hình thị trường vốn,…
 + Phân tích kỹ thuật ( Technical analysis ) đơn giản là một phương pháp dự báo dựa vào nghiên cứu về quá khứ, tâm lý và quy luật xác suất. Nó tất nhiên không phải là không thất bại nhưng nó là một kỹ thuật kinh doanh rất đáng để nghiên cứu. Phân tích kỹ thuật chủ yếu là dựa vào đồ thị tỉ giá và số lượng mua bán của quá khứ đã được tập hợp lại để dự đoán khuynh hướng của tỉ giá trong tương lai. Phân tích kỹ thuật có tính linh hoạt, dễ sử dụng và nhanh chóng, những nhà kinh doanh ngắn hạn, trung hạn, dài hạn được tự do chọn lựa. Điều lưu ý là phân tích kỹ thuật có thể là công cụ giúp ta dự báo xu hướng đúng, nhưng nó phải được sử dụng theo nguyên tắc đã được tính toán chứ không phải theo cảm tính. Thời gian lập biểu đồ phân tích là do mỗi nhà kinh doanh lựa chọn có thể sử dụng phân tích kỹ thuật trong ngày ( các dạng 5 phút, 30 phút hay mỗi giờ), trong tuần hoặc trong tháng. Các lý thuyết chính của phân tích kỹ thuật là: lý thuyết Dow, lý thuyết Fibonacci, lý thuyết Elliott Wave…Trong phân tích kỹ thuật có các giả định: thị trường phản ứng trước mọi sự kiện xảy ra, giá cả biến động theo một khuynh hướng nhất định, sự biến động giá cả thường lập lại theo chu kỳ và có sự lập lại của giá cả trong quá khứ vào tương lai (history repeats itself).
 Như vậy mỗi loại hình phân tích có những điểm mạnh và điểm yếu riêng. Vì vậy nhà kinh doanh trong hoạt động kinh doanh phải biết linh hoạt sử dụng các công cụ này cộng với quyết định trực quan của mình để ra quyết định nhanh chóng và chính xác
  1. Một số các chỉ số, thông tin kinh tế chính thường được sử dụng trong phân tích
- Tổng sản phẩm quốc nội (GDP): Bất cứ một quốc gia nào cũng muốn duy trì một nền kinh tế tăng trưởng cùng với sự ổn định tiền tệ và công ăn việc làm cho dân cư mà GDP là một trong những tín hiệu cụ thể của những nỗ lực của chính phủ. Vì thế việc nghiên cứu khuynh hướng của sự tăng trưởng GDP, tỉ lệ thất nghiệp cũng như tỉ lệ lạm phát giúp chính phủ có thể thay đổi chính sách tiềntệ để đạt được những mục tiêu đã đề ra. Ví dụ khi có thông tin GDP của nước nào đó tăng lên thì đó là tin tốt cho đồng tiền nước đó…
- Chỉ số giá cả tiêu dùng(CPI): Là một trong những chỉ số kinh tế quan trọng của một quốc gia. Vì vậy sự gia tăng nhanh hoặc giảm nhanh của lạm phát là một dấu hiệu cho thấy rất có khả năng có một sự thay đổi trong chính sách tiền tệ.
- Sản lượng công nghiệp (Industrial Production): Vì giá trị của ngành công nghiệp chiếm một tỉ trọng lớn trong GDP nên một sự thay đổi nhỏ của chỉ số này cũng có thể gây ra những thay đổi lớn về tốc độ tăng trưởng GDP và vì thế sẽ ảnh hưởng đến thị trường tiền tệ của mỗi quốc gia.
- Số lượng hàng hóa bán lẻ (Retail sales): Bằng việc theo dõi số lượng hàng hóa bán lẻ trong một thời gian nhất định chính phủ có thể đánh giá được một cách gần chính xác sự tăng trưởng của việc tiêu dùng cá nhân của dân cư, mà việc tiêu dùng của xã hội đóng góp rất lớn vào giá trị của GDP.
- Hàng tồn kho (Inventories) : Tỉ lệ hàng tồn kho là một yếu tố quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế. Ví dụ nếu tỉ lệ tồn kho tăng cao tức là sức mua trong nền kinh tế đang có chiều hướng giảm sút sẽ gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất hàng hóa trong nền kinh tế và ngược lại.
- Chỉ số chứng khoán (Stock index): Đây được coi là một trong những phong vũ biểu của nền kinh tế. Nếu chỉ số chứng khoán tăng mạnh thể hiện có sự gia tăng đầu tư mạnh mẽ của dân chúng vào TTCK tức là người dân tin tưởng vào sự phát triển trong tương lai gần của nền kinh tế…
- Ngoài ra trên thị trường còn có rất nhiều các chỉ số quan trong khác mà bất cứ một dealer nào cũng quan tâm như: M2, lãi suất chiết khấu, trái phiếu, chỉ số thất nghiệp…Ví dụ vào đầu tháng 5.2003 có thông tin chỉ số thất nghiệp trong tháng 4 của Mỹ tăng từ 5.8% (tháng 3.2003) lên 6%, làm cho đồng USD giảm giá mạnh trên thị trường hối đoái quốc tế.

 2. Một số kỹ thuật ứng dụng trong phân tích kỹ thuật
Lập các biểu đồ (charting) và tính các chỉ số kỹ thuật (technical indicator).
° Thiết lập các biểu đồ về tỷ giá: Đây là một lĩnh vực không thể thiếu của phân tích kỹ thuật, giá trị của nó là giúp chúng ta thấy sự tồn tại các xu hướng của thị trường, tạo thuận lợi cho việc nghiên cứu và chỉ ra sớm nhất khi các xu hướng này đổi chiều. Đó chính là mục tiêu quan trọng mà các nhà kinh doanh cần hướng đến. Một số biểu đồ giá quan trọng đang được sử dụng trong phân tích kỹ thuật:
- Mức mua có lợi (support) muốn chỉ một khu vực cầu hoặc mua trước đó (trước đó là đáy), nơi người ta dự đoán hoạt động mua sẽ tăng lên một lần nữa để kiểm tra việc giảm giá. Mức bán có lợi (resistance) là khu vực cung hoặc bán trước đó (trước đó là đỉnh), nơi có thể dự đoán hoạt động bán sẽ tiếp tục xảy ra để ngăn việc tăng giá.
- Các xu hướng (trends) và đường xu hướng (trendline) : một xu hướng tăng là một dãy các đỉnh và đáy theo chiều tăng lên và ngược lại với xu hướng giảm. Các đường xu hướng cho phép xác định các mức mua bán có lợi, tiến hành các trạng thái mới hoặc ngừng lỗ.
 - Mô hình đầu và vai (head&shoulders) S-H-S: Là mô hình đảo chiều có tiếng nhất và đáng tin cậy nhất. Mô hình này được đặc thù bởi 3 điểm đỉnh nổi bật của thị trường, cái đầu (head) đỉnh giữa cao hơn các đỉnh bao quanh hai bên (left shoulder - right shoulder), một đường viền cổ (neckline) được vẽ dưới các điểm đáy phản hồi cắt ngang, sự dừng lại dưới đường viền cổ hoàn tất việc tạo lập mô hình và cho thấy dấu hiệu về sự đảo chiều quan trọng của thị trường. Nhà đầu tư có thể đặt lệnh dừng lỗ (stop loss) khi điểm cuối cùng của bên vai phải nhập vào đường viền cổ…
- Mô hình song đỉnh và đáy (double tops and bottoms): được hình thành khi các điểm cao hoặc thấp kế tiếp dừng lại tại các mức xấp xỉ giống nhau. Vì vậy nhà đầu tư có thể bán dưới đường viền cổ hoặc khi đường viền cổ bị thâm nhập và nên đặt lệnh dừng lỗ (stop loss nằm ở giữa hai đỉnh (tops).
- Cờ và cờ đuôi nheo (flags and pennants): Chúng là các mô hình giá có khả năng kiếm lợi nhuận rất cao. Chúng thường đánh dấu các điểm dừng ngắn hoặc các giai đoạn nghỉ trong sự sôi động của diễn biến thị trường. Nó đánh dấu trung điểm (the halfway point) trong dịch chuyển của thị trường.
Ngoài các mô hình trên, nhà phân tích còn sử dụng còn sử dụng nhiều mô hình khác: mô hình tam đỉnh và đáy (triple tops & bottoms), mô hình các tam giác cân (symmetrical triangles)..

° Chỉ số kỹ thuật (Technical indicators):
Những biểu đồ trên có ưu điểm là đơn giản, nhưng có nhược điểm là chủ quan. Do đó để khắc phục nhược điểm này, các chuyên gia phân tích cùng với công nghiệp điện toán đã tính ra hơn 100 chỉ số kỹ thuật (technical indicators) để giúp cho việc mua bán mang tính khoa học hơn. Việc lựa chọn chỉ số nào trong 100 chỉ số là tuỳ thuộc vào quan điểm của người đầu tư. Những chỉ số kỹ thuật quan trọng:
- Chỉ số trung bình động MA (Moving average): là một kỹ thuật giúp san bằng hay loại trừ những biến động ngẫu nhiên hàng ngày của giá cả, giúp nhà kinh doanh có ý tưởng về hướng đi của thị trường. Chỉ số MA như một bộ lọc xu hướng (a trend filter) và nguyên lý cơ bản của nó là nên mua khi giá lên trên mức trung bình, ngược lại nên bán khi giá đi xuống dưới mức trung bình. 
Có 3 loại trung bình động: đơn giản (simple), gia quyền (weighted) và lũy thừa (exponential). Trong đó, trung bình động đơn giản được sử dụng nhiều nhất.
 - Chỉ số trung bình động đơn giản SMA (Simple moving average) là trung bình toán học liên tục của một dãy số liệu qua một giai đoạn cụ thể ( x ngày ). Ví dụ tính chỉ số trung bình động 8 ngày của ngày hôm nay là trung bình của ngày hôm nay và 7 ngày trước (thông thường là sử dụng giá đóng cửa), quá trình này cứ tiếp diễn liên tục qua mỗi ngày. Có 3 hệ thống trung động phổ biến: đơn (single) kép (double), bộ ba (triple). Trong đó hệ thống trung bình động sử dụng hai đường trung bình được sử dụng phổ biến hơn. Hệ thống này bao gồm một đường trung bình dài hạn (longer-term average) có tác dụng xác định xu hướng và một đường trung bình ngắn hạn (shorter-term average) cho biết các tín hiệu giao dịch khi nó cắt ngang đường trung bình dài hạn. Nhà kinh doanh sẽ mua khi đường trung bình ngắn hạn cắt lên trên đường trung bình dài hạn và bán khi nó cắt xuống. Để an toàn hơn, các nhà kinh doanh cũng có thể chờ cơ hội khi xuất hiện các giao điểm vàng (golden crossover) và giao điểm chết (dead crossover).
- Giao điểm vàng (golden crossover) xuất hiện khi cả 2 đường trung bình động ngắn hạn và dài hạn đều đang hướng lên khi và sau khi chúng cắt nhau. Lúc này các nhà kinh doanh nên mua vì đó là dấu hiệu để biểu thị giá sẽ còn tiếp tục tăng lên.
- Giao điểm chết (dead crossover) xuất hiện khi cả 2 đường trung bình động ngắn hạn và dài hạn đang đi xuống khi và sau khi chúng cắt nhau. Lúc này các nhà đầu tư nên bán vì giá sẽ còn xuống nữa.
- Đường trung bình động dịch chuyển (displaced moving average) chỉ đơn giản là di chuyển toàn bộ đường trung bình động sang bên phải, tức là đến một giai đoạn nhất định trong tương lai.
- Chỉ số động lượng (momentum) : Chỉ số này cung cấp một thước đo chính xác về vận tốc của thị trường. Cách tính chỉ số động luợng rất đơn giản là ta lấy giá đóng cửa ngày hôm nay trừ đi giá đóng cửa của x ngày trước đây, kết quả sẽ là một số dương hoặc một số âm được đánh dấu xung quanh đường zêrô. Nếu thị trường đang đi lên, đường động lượng sẽ cắt lên trên đường trung hòa (neutral line) và thông thường dốc lên và ngược lại. Ngoài ra, trong thực tế các nhà phân tích chuyên nghiệp còn dùng nhiều chỉ số kỹ thuật phức tạp mà tác giả cũng đang học hỏi như: Phương pháp giao dịch hội tụ- phân kỳ trung bình động MACD, chỉ số Cambridge Hook, đường dao động TRIX, chỉ số sức mạnh RSI, chỉ số chuyển động định hướng DMI…
Như vậy, chúng ta đã có những phương pháp phân tích căn bản mà tác giả thu nhận từ những sách vở nước ngoài, nhà đầu tư khi sử dụng phải hết sức cẩn thận và nên tập thử trước khi đối diện với sự thật. Bởi theo thông thường, mọi thứ trên đời là sự trao đổi giữa rủi ro và phần thưởng (Everything in life is a trade-off between risk and reward). Tuy nhiên nếu chúng ta cần cù, chăm chỉ làm việc có kế hoạch và một chút may mắn bạn sẽ thành công.
( tổng hợp)
Nguồn từ: BillBuck

Chúc mọi người thành công. 
Hãy để lại lời góp ý của mình bằng cách Click vào nhận xét, sau đó để lại lời góp ý, (có thể chọn 1 hộp thư để đăng ký hoặc chọn mục Nặc danh các bạn nhé).

 

Đường chỉ báo - Stochastic Oscillator


Đường chỉ báo - Stochastic Oscillator

Đặng Minh Nhựt (thực hiện)
Đứng ở góc nhìn của dân phân tích kĩ thuật, thị trường chứng khoán được phân thành hai loại: thị trường có xu hướng (trending market) và thị trường dao động (range-bound market). Đây là điều cơ bản nhất nhưng lại là chìa khóa để thành công trong phân tích kĩ thuật. Bởi vì loại thị trường sẽ chỉ ra nhóm công cụ kĩ thuật thích hợp nhất cho nhà đầu tư.
Đứng ở góc nhìn của dân phân tích kĩ thuật, thị trường chứng khoán được phân thành hai loại: thị trường có xu hướng (trending market) và thị trường dao động (range-bound market). Đây là điều cơ bản nhất nhưng lại là chìa khóa để thành công trong phân tích kĩ thuật. Bởi vì loại thị trường sẽ chỉ ra nhóm công cụ kĩ thuật thích hợp nhất cho nhà đầu tư.

Cùng với hai dạng thị trường là hai nhóm công cụ phân tích kĩ thuật: nhóm chỉ số dao động (oscillators) và nhóm chỉ số xu hướng (trend indicators). Các chỉ số thuộc nhóm dao động được tạo ra chủ yếu để dự báo khả năng đảo chiều. Nói cách khác, nhóm chỉ số dao động sẽ cho nhà đầu tư biết khi nào xu hướng hiện hữu của thị trường thực sự “đuối” và có khả năng quay đầu. Nhóm các chỉ số xu hướng thì được dùng để phân tích khả năng tiếp diễn hay đảo chiều của xu hướng đang diễn ra.

Một xu hướng hoặc sẽ tiếp diễn hoặc sẽ đảo chiều. Do đó, chỉ một trong hai nhóm chỉ số kĩ thuật trở nên hiệu quả trong giai đoạn nhất định. Cụ thể, khi thị trường đã tăng mạnh mẽ trong thời gian dài, các chỉ số dao động sẽ giúp nhà đầu tư dự đoán thời điểm đảo chiều và chốt lời ở mức giá tốt nhất trong khi các chỉ số xu hướng lại vẫn cho dấu hiệu tăng nên không nói lên điều gì rõ ràng.

Trong thời kì kinh tế như hiện nay, việc xác định điểm mua vào/bán ra rất được nhiều nhà đầu tư quan tâm do thị trường khó có thể tăng mạnh trong nhiều phiên liên tiếp. Ra vào đúng lúc phải dựa trên quan sát tâm lý thị trường cũng như phân tích kĩ thuật. Stochastic là một công cụ kĩ thuật khá hiệu quả hỗ trợ nhà đầu tư đưa ra quyết định trên.

Stochastic Oscillator, được
George Lane giới thiệu vào những năm 1950, trên cơ bản là sự so sánh giá đóng cửa hiện tại với biên độ giá cao nhất – thấp nhất trong một khoảng thời gian nhất định. Stochastic gồm có 3 loại: slow, fast và full. Do full stochastic không được sử dụng phổ biến nên không đi vào chi tiết trong bài viết này.

Stochastic gồm hai đường là %K và %D.
Fast stochastic gồm “%K fast” và “%D fast”.
Slow stochastic gồm “%K slow” và “%D slow”.
%D được tính bằng cách lấy trung bình động ngắn hạn của %K.
Quan sát các biểu đồ kĩ thuật, nhà đầu tư sẽ nhận thấy đi kèm với %K, %D là hai từ “slow” và “fast”, thể hiện độ nhạy với thay đổi giá của hai đường nói trên. Quy trình tính toán của stochastic khá phức tạp so với các chỉ số khác cùng loại. Nói một cách tổng quát, %K fast sẽ được tính đầu tiên bằng công thức dưới đây với n là số ngày giao dịch. Sau khi có được %K fast, nhà đầu tư có thể lần lượt tính toán %D fast và slow stochastic bằng công thức trung bình động (moving average).
Công thức tính %K trong cách tính chỉ số Stochastis

%K và %D sẽ dao động trong khoảng 0 đến 100. Dựa trên lý thuyết mà nói, khi stochastic đạt trên 80, thị trường đã đi vào vùng mua quá (overbought).
Ngược lại, thị trường sẽ rơi vào tình trạng bán quá (oversold) khi stochastic xuống dưới mốc 20. Trên thực tế, giá vẫn có thể tiếp tục duy trì xu hướng dù stochastic đã đi vào vùng mua quá hay bán quá.
Hình 01 - Ví dụ về đường Stochastic trong vùng mua quá

Đối với thị trường chứng khoán Việt
Nam, nhà đầu tư nên chọn sử dụng “%K slow” của slow stochastic. Fast stochastic có khả năng đưa ra những tín hiệu sớm hơn và cũng vì vậy mà rủi ro sai lệch cũng sẽ cao hơn. Thêm vào đó, thay vì chốt lời khi stochastic đi vào vùng mua quá, nhà đầu tư có thể chờ đến khi đường %K quay đầu đi xuống khỏi vùng này. Tương tự, nhà đầu tư sẽ mua vào khi stochastic từ dưới vùng bán quá đi lên khỏi mốc 20. Nếu nhà đầu tư tìm kiếm yếu tố khẳng định các tín hiệu trên thì có thể quan sát sự giao nhau của hai đường %K slow và %D slow.
Hình 02 - Ví dụ về đường Slow Stochastic với cổ phiếu BMP

Ngoài ra, một số quan điểm cho rằng khi stochastic giảm từ vùng mua quá xuống nhưng đột ngột quay đầu thì nhà đầu tư nên xem xét mua vào. Áp dụng cho xu hướng tăng, nhà đầu tư có thể chốt lời nếu stochastic đột ngột giảm sau khi tăng mạnh từ dưới vùng bán quá (xem hình H.1). Như đã đề cập trong các bài viết phân tích kĩ thuật trước đây, nhà đầu tư phải lưu ý yếu tố T+3 trước khi tham gia hoặc thoát ra thị trường đang tăng/giảm mạnh. Stochastic đảo chiều đột ngột nhưng liệu giá đóng cửa T+4 có cao hơn giá mua vào hiện tại?

Phân tích kĩ thuật là quá trình tổng hợp dữ liệu lịch sử để dự báo các khả năng trong tương lai mà chưa có yếu tố con người. Vì vậy, nhà đầu tư cần kết hợp các tín hiệu kỹ thuật với sự am hiểu thị trường để đưa ra quyết định chính xác nhất.

Đặng Minh Nhựt (thực hiện)

Chúc mọi người thành công. 
Hãy để lại lời góp ý của mình bằng cách Click vào nhận xét, sau đó để lại lời góp ý, (có thể chọn 1 hộp thư để đăng ký hoặc chọn mục Nặc danh các bạn nhé).