Thứ Hai, 11 tháng 10, 2010

Cảnh báo - HAP, SBS, BMC

Cảnh báo - HAP, SBS, BMC

1. Cổ phiếu HAP - CTCP Tập Đoàn Hapaco (HoSE)

Hình 01 - Cổ phiếu HAP - CTCP Tập Đoàn Hapaco (HoSE)

2. Cổ phiếu SBS - CTCP Chứng khoán Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (HoSE)
Hình 02 - Cổ phiếu SBS - CTCP Chứng khoán Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (HoSE)

3. Cổ phiếu BMC - CTCP Khoáng sản Bình Định (HoSE) 

Hình 03 - Cổ phiếu BMC - CTCP Khoáng sản Bình Định (HoSE)





Chúc mọi người thành công.
Bài này xuất bản từ: http://www.chungkhoanmoingay.blogspot.com (bản gốc). Mọi trích dẫn xin đính kèm địa chỉ này. (Bản quyền tác giả giữ).
Hãy để lại lời góp ý của mình bằng cách Click vào nhận xét, sau đó để lại lời góp ý, (có thể chọn 1 hộp thư để đăng ký hoặc chọn mục Nặc danh các bạn nhé).

Phiên kinh hoàng của TT Mỹ ngày 06/05 một phần có thể do lỗi giao dịch cổ phiếu P&G


Phiên kinh hoàng của TT Mỹ ngày 06/05 một phần có thể do lỗi giao dịch cổ phiếu P&G


NgọcDiệp
Theo Dân Trí/Reuters


Một nhà đầu tư có thể đã bấm nhầm chữ B - Billion (tỷ) thay cho chữ M - Million (triệu) khi bán cổ phiếu Procter & Gamble, một công ty thuộcDow Jones. Cổ phiếu P&G có lúc giảm 37%.
Phiên hôm qua, thị trường chứng khoán Mỹ chứng kiến một trong những phiên giao dịch kinh hoàng nhất trong lịch sử, Dow Jones giảm gần 1 nghìn điểm và sau đó hồi phục trở lại, theo một số nguồn tin, có thể đã có lỗi trong giao dịch.
Theo nhiều nguồn tin, một nhà đầu tư đã bấm nhầm chữ B - Billion (tỷ) thay cho chữ M- Million khi đặt lệnh bán cổ phiếu Procter & Gamble, một công ty trong chỉ số công nghiệp Dow Jones. Lỗi giao dịch này được cho là liên quan đến Citigroup.
Trong tuyên bố mới nhất từ Citigroup, đại diện ngân hàng tuyên bố: “Chúng tôi, cùng với các bên thanh tra, sẽ tìm hiểu nguyên nhân gây ra biến động trên thị trường. Ở thời điểm này chưa có bằng chứng nào liên quan đến lỗi giao dịch.”
Một yếu tố khác có thể là nguyên nhân khiến thị trường Mỹ giảm điểm chính là những hợp đồng tương lai liên quan đến chỉ số S&P 500 được gọi là E-mini S&P 500 futures, trong 2 phút, 16 tỷ hợp đồng tương lai đã bị bán.

Diễn biến cổ phiếu P&G trong phiên giao dịch lịch sử ngày 06/05(Nguồn: Google Finance)

Sàn Nasdaq và New York đã bất thường tuyên bố hủy một số lệnh giao dịch thực hiện ở thời điểm đỉnh cao của làn sóng bán tháo trên TTCK Mỹ. Cả hai sàn tuyên bố họ sẽ hủy giao dịch với biên độ giá quá 60% từ 2h40 phút cho đến 3h chiều so với mức giá gần nhất ở thời điểm 2h40 phút chiều.
Khi bị bán tháo quá mạnh, cổ phiếu Procter & Gamble giảm tới gần 37% xuống mức 39,37USD/cổ phiếu tính đến 2h47 phút chiều trên thị trường New York. P&G vì thế buộc phải vào cuộc điều tra xem liệu đã có lỗi giao dịch xảy ra hay không.
Một nhân viên thuộc NYSE đã rời trụ sở NYSE khi thị trường đang giao dịch trong phiên hôm qua cho rằng sự suy giảm của cổ phiếu P&G là tâm điểm của làn sóng bán tháo trên thị trường.
Phát ngôn viên của P&G cho biết đã liên lạc với Ủy ban chứng khoán Mỹ, tuy nhiên chưa đưa ra thêm tuyên bố nào.
Sàn Nasdaq cho biết các bên tham gia thị trường trong phiên giao dịch ngày hôm qua nên xem xét lại các giao dịch.
Đợt bán tháo trên thị trường Mỹ bắt đầu khoảng từ khoảng lúc 2h chiều, một phần bởi nỗi lo khủng hoảng nợ châu Âu, chính phủ Hy Lạp chấp thuận chương trình cắt giảm ngân sách khiến bạo loạn tại Hy Lạp bùng nổ.
Ông Dick Bove, chuyên gia phân tích ngành ngân hàng Mỹ, phát biểu với CNBC: “Hiện nay thị trường ngày một nhận ra rằng cuối cùng Hy Lạp cũng sẽ phải tuyên bố vỡ nợ. Những cuộc bạo loạn tại Hy Lạp cho thấy quyết định trả nợ mà Hy Lạp nhận từ quốc tế không đến từ người Đức, người Pháp và người Thụy Sỹ, người Hy Lạp sẽ quyết định và họ sẽ không trả nợ.”
Nếu Hy Lạp sụp đổ, làn sóng vỡ nợ cấp quốc gia sẽ lan rộng tại châu Âu cũng như toàn thế giới.
NgọcDiệp
Theo Dân Trí/Reuters

Chúc mọi người thành công.
Hãy để lại lời góp ý của mình bằng cách Click vào nhận xét, sau đó để lại lời góp ý, (có thể chọn 1 hộp thư để đăng ký hoặc chọn mục Nặc danh các bạn nhé).

Kinh tế Mỹ chứng kiến sự chuyển đổi lịch sử

Kinh tế Mỹ chứng kiến sự chuyển đổi lịch sử


Ngọc Diệp
Tổng hợp theo Dân Trí,VnMedia/Economist

Khủng hoảng kinh tế – tài chính đã, đang và sẽ thay đổi động lực tăng trưởng, địa lý kinh tế và nhiều yếu tố vi mô khác của kinh tế Mỹ.
Kinh tế Mỹ sẽ chuyển mô hình phát triển, từ tiêu dùng và vay nợ sang xuất khẩu và tiết kiệm. Các chuyên gia cho rằng đây sẽ là sự thay đổi lớn nhất trong nhiều thập kỷ.
Ông Steve Hilton vẫn nhớ những ngày tháng tuyệt vọng sau khi ngân hàng Lehman Brothers sụp đổ vào năm 2008. Khách hàng đổ xô đến văn phòng tại Meritage Homes, công ty bất động sản nơi ông Hilton làm việc, không phải để mua nhà mà để hủy những hợp đồng họ đã ký. Ông nhớ lại: “Lúc đó, thoáng chốc tôi cảm giác như ngày tận thế sắp đến.”
Những tháng sau đó, ông đã hết sức cố gắng để cứu công ty. Ông từ bỏ kế hoạch mua hàng ngàn mảnh đất tại bang Arizona, Florida, NevadaCalifornia mà công ty đã có dự định thâu tóm. Cuối cùng, ông quyết định sa thải khoảng 2.300 nhân viên.
Ông cũng thay đổi thiết kế nhà cửa để tiết kiệm chi phí: mái đơn giản, cửa sổ ở một số khung nhất định, lựa chọn cho khách hàng ít hơn. Công ty của ông hiện chỉ thực hiện hợp đồng cho những khách hàng có khả năng vay được tiền: người mua nhà lần đầu được vay khoản vay có đảm bảo của liên bang. Công ty cố gắng hết sức để trở lại trong vai trò một công ty kinh doanh tốt.
Điều tương tự có thể nói về kinh tế Mỹ. Gần như tất cả các ngành tại Mỹ đều sa thải lao động trong 2 năm qua thế nhưng những công ty nào có hoạt động kinh doanh phụ thuộc vào người tiêu dùng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất. Số lượng việc làm trong lĩnh vực bất động sản nhà ở và sản xuất xe ô tô giảm gần 1/3, trong lĩnh vực bán lẻ và ngân hàng giảm gần 8%.
Khi kinh tế phục hồi, một số vị trí trong các ngành trên sẽ được tuyển dụng trở lại, thế nhưng điều đó sẽ không bao giờ trở lại với một số vị trí bởi đợt suy thoái kinh tế vừa qua không giống các đợt suy thoái thông thường khác. Bong bóng giá tài sản, tín dụng lỏng lẻo như chưa bao giờ có và giá dầu giảm tạo ra thời kỳ hoàng kim của tiêu dùng Mỹ, những yếu tố trên sẽ không bao giờ trở lại.
Thay vào đó, kinh tế Mỹ sẽ trải qua một trong những sự chuyển dời lớn nhất trong lịch sử. Sự chuyển dời mô hình tăng trưởng kinh tế vĩ mô, từ vay nợ và tiêu dùng sang xuất khẩu và tiết kiệm sẽ mang đến nhiều thay đổi khác về kinh tế vi mô: lối sống, việc làm tại nhiều nơi khác nhau. Báo cáo đặc biệt này sẽ mô tả về sự thay đổi đó và giải thích tại sao thay đổi đó sẽ khá phức tạp.
Khủng hoảng và suy thoái kinh tế đã chấm dứt mô hình kinh tế cũ. Bất chấp sự phục hồi gần đây, giá nhà đất đã giảm 29% và giá cổ phiếu cũng giảm với mức tương tự so với mức đỉnh cao.
Tài sản của các hộ gia đình giảm khoảng 12 nghìn tỷ USD tương đương 18% từ năm 2007. Tính trong tương quan với thu nhập khả dụng, tài sản của các hộ gia đình đang trở lại mức cách đây tới 15 năm. Khi người tiêu dùng cảm thấy nghèo đi, họ sẽ hạn chế chi tiêu. Ngân hàng ngại cho vay, họ thắt chặt điều kiện các khoản vay.
Nợ tiêu dùng từ mức trung bình 80% thu nhập khả dụng ở thời điểm 20 năm trước đây lên mức 129% thu nhập khả dụng vào năm 2007.
Nếu những cuộc khủng hoảng trong nửa thế kỷ qua có thể là chỉ báo nào đó cho hiện tại, người tiêu dùng Mỹ sẽ mất 6 đến 7 năm tới để giảm nợ xuống mức họ có thể kiểm soát được. Hành vi này đã thay đổi những yếu tố căn bản trong hoạt động kinh tế. Tiêu dùng và nhà đất đóng góp 70% GDP năm 1991, đến năm 2005, con số này là 76%. Đến năm 2009, tỷ lệ này lại xuống mức 73%, vẫn cao so với mức chung của quốc tế.
Khi bong bóng giá tài sản “xì hơi”, tín dụng thắt chặt, giá năng lượng cao, ảnh hưởng lên nền kinh tế đã quá rõ ràng. Số lượng người mua nhà ít hơn, những căn nhà họ mua cũng nhỏ và bớt xa hoa hơn. Năm 2008, diện tích của 1 căn nhà mới tại Mỹ giảm lần đầu tiên trong 13 năm. Số lượng thẻ tín dụng đưa vào lưu thông giảm 25%. American Express hiện đang thu hẹp hoạt động đối với bộ phận thẻ tín dụng và yêu cầu khách hàng làm sao để có thể kiểm soát chi tiêu trên thẻ tín dụng của họ.
Thông thường, sau mỗi đợt suy thoái kinh tế, sự hồi phục diễn ra mạnh mẽ. Trong đợt suy thoái gần đây, GDP tăng trưởng âm 3,8%, mức đi xuống sâu nhất từ Chiến tranh Thế giới thứ Hai. Vì thế, người ta kỳ vọng mức độ phục hồi có thể đạt từ 6% đến 8%, tỷ lệ thất nghiệp giảm đều đặn, kịch bản tương tự cũng đã xảy ra sau thời kỳ suy thoái năm 1973-1975 và 1981-1982.
Đừng kỳ vọng quá lớn
Thế nhưng đợt suy thoái kinh tế lần này lại đi theo sau đó là khủng hoảng tài chính cản trở khả năng chuyển tiền tiết kiệm sang kênh đầu tư hiệu quả của hệ thống tài chính, người tiêu dùng và doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận với nguồn vốn. Sau những thời kỳ khủng hoảng như vậy, sự phục hồi thường diễn ra chậm chạp. Tỷ lệ thất nghiệp vẫn tăng trên khắp nước Mỹ dù trên thực tế trong tháng 2/2010 có giảm.
Vì thế nếu nước Mỹ có thể tránh được sự trì trệ giống Nhật sau thời kỳ bong bóng, yếu tố nào có thể làm nên việc này? Trong ngắn hạn, chính quyền liên bang đã đẩy mạnh vay tiền, tổng số tiền vay lên tới 10% GDP trong năm 2010 để giúp ngăn đầu tư và tiêu dùng suy giảm.
Trong vài năm tới, gói kích cầu sẽ bị rút đi. Tổng thống Obama muốn thâm hụt ngân sách xuống mức khoảng 3% GDP ở thời điểm giữa thập kỷ này dù hiện nay vẫn chưa chắc ông sẽ làm được điều đó bằng cách nào, chính phủ có thể sợ hãi việc rút đi kế hoạch kích thích quá sớm sẽ có thể đẩy kinh tế rơi vào suy thoái.
Tín dụng thắt chặt, tiêu dùng đi xuống không phải là yếu tố duy nhất thúc đẩy quá trình tái cơ cấu kinh tế. Yếu tố khác chính là việc giá năng lượng tăng cao. Đồng USD mạnh và nguồn cung dồi dào khiến giá dầu ở mức thấp suốt thập niên 1990, người Mỹ phụ thuộc vào hàng nhập khẩu. Nay mọi chuyện đã khác, một vài năm trước khủng hoảng, đồng USD giảm giá, nhu cầu dầu quá lớn từ nhóm nước mới nổi tạo ra nhiều áp lực lên sản xuất dầu trên toàn cầu.
Việc giá dầu tăng gấp 4 lần từ thập niên 1990 đã điều chỉnh hành vi của cả người tiêu dùng và nhà sản xuất. Xe đa dụng thể thao không còn được ưa chuộng như trước, các nhà hoạch định chính sách chú trọng nhiều hơn đến vấn đề môi trường và năng lượng tái sinh, các công ty sản xuất khai thác được nhiều hơn từ những khu vực đất ngầm tại Mỹ và biển.
Nhập khẩu dầu từ năm 2006 đến nay giảm 10% và nhiều khả năng sẽ tiếp tục giảm. Khi giá khí đốt tự nhiên giảm cùng với giá dầu vào đầu thập kỷ này, nhóm nước khai thác sử dụng các biện pháp mới để khai thác tại những khu vực mới.

Địa lý kinh tế của Mỹ sẽ thay đổi. Giá xăng giảm, tín dụng dồi dào, người Mỹ đổ xô đến các bang miền Nam và khu vực xa xôi, tìm những ngôi nhà lớn với nhiều đất. Thế nhưng, khủng hoảng nhà đất xảy ra, họ mắc kẹt ở những ngôi nhà mà họ không biết bán cho ai. Tăng trưởng dân số tại những khu vực này chững lại.
Hiện nay khi sự phát triển của những ngành nghề cần tri thức tăng cao, những khu vực với cơ sở hạ tầng tốt và nhân sự trình độ cao được chú trọng. Đó là những nơi như New York và một số thành phố khác có nhiều việc làm, những căn nhà có giá cả phải chăng và không tốn quá nhiều thời gian đi lại.
Năng suất lao động tăng có thể khiến thu nhập và lợi nhuận tăng cao. Người tiêu dùng có thể trả nợ và tiếp tục tiêu dùng. Sự thay đổi về yếu tố làm nên tăng trưởng sẽ có tác dụng: năng suất lao động trong lĩnh vực xây dựng vẫn ở mức thấp, trong lĩnh vực xuất khẩu, những công ty nào sản xuất ra sản lượng cao nhất thường kinh doanh tốt nhất. Trong khi đó, hệ thống tài chính còn khó khăn sẽ khiến những người không tiếp cận được tài chính khó có thể tiếp cận được với nguồn tài chính, sự đổi mới khó có thể đến.
Triển vọng đầu tư doanh nghiệp phụ thuộc vào việc tiền đầu tư đó dành cho thiết bị hay nhà xưởng. Chi tiêu vào thiết bị sẽ vẫn ở mức cao, nhìn chung tránh được sự thừa mứa như thời kỳ bùng nổ, quý 4/2009 đầu tư tăng trưởng với tốc độ trung bình năm đạt 19%.
Tháng 2/2010, ông John Chambers, chủ tịch Cisco, nhận xét: “Hiện tại là một trong những bước ngoặt lớn nhất và tích cực nhất trong sự nghiệp của tôi.” Nhu cầu đối với nhà xưởng mới còn thấp hơn: các cửa hàng và văn phòng trống rỗng. Đầu tư doanh nghiệp thường chỉ đóng góp từ 10% đến 12% GDP vì thế đầu tư doanh nghiệp không thể đủ để là thay thế cho tiêu dùng người dân.
Con đường hồi phục
Khi người tiêu dùng khôi phục lại tiền tiết kiệm, các công ty Mỹ buộc phải tìm kiếm các thị trường nước ngoài nhiều hơn. Họ có nhiều việc phải làm. Sự cạnh tranh từ những nước thu nhập thấp, chủ yếu là Trung Quốc, đã lấy đi thị phần tại nước Mỹ của những ngành nội thất, quần áo và hàng điện tử tiêu dùng.
Tuy nhiên mô hình tăng trưởng kinh tế toàn cầu và đồng USD yếu đang tạo cái nền cần thiết cho xuất khẩu tăng trưởng. Ông Bruce Kasman, chuyên gia kinh tế trưởng tại JP Morgan Chase, nhận xét :”Hiện tồn tại quan điểm rằng nước Mỹ là nước tiêu dùng của thế giới và nhóm thị trường mới nổi là nhà sản xuất. Điều này đã thay đổi.” Ông khẳng định nước Mỹ sẽ chỉ đóng góp 27% vào tiêu dùng toàn cầu trong năm nay, trong khi đó con số này đối với thị trường mới nổi là 34%, đảo ngược lại thị phần cách đây 8 năm.
Đồng USD yếu sẽ giúp hồi sinh một số ngành trên thị trường hàng hóa, thế nhưng nhóm công ty hưởng lợi lớn nhất sẽ là những công ty hiện đã mạnh về xuất khẩu. Sự đi lên của nhóm công ty này phản ánh sức mạnh của Mỹ trong sản xuất hàng cao cấp như thiết bị y tế, dược phẩm, phần mền và sản phẩm kỹ thuật, ngoài ra còn là những ngành có dịch vụ sáng tạo cao như phim ảnh, kiến trúc và quảng cáo.
Chỉ có nước Mỹ mới có siêu phẩm Avatar với doanh thu 2,6 tỷ USD, 70% đến từ thị trường nước khác ngoài Mỹ, con số lợi nhuận của Avatar dự kiến sẽ còn cao hơn nữa.
Sau khủng hoảng, xuất khẩu là con đường thông thường để cứu một nước thoát khỏi khủng hoảng. Kịch bản đó đã diễn ra tại Thụy Điển và Phần Lan thập niên 1990 và Thái Lan, Malaysia, Hàn Quốc cuối thập niên 1990. Kinh tế những nước này hồi phục mạnh mẽ từ suy thoái bằng việc có được thặng dư thương mại. Thế nhưng xét đến quy mô và tình trạng hiện nay của kinh tế Mỹ, nước Mỹ sẽ khó khăn hơn nhiều.
Hàng hóa từ Mỹ vào thị trường mới nổi nhiều hơn so với thị trường các nước phát triển, thế nhưng nếu một số nước như Trung Quốc không đưa ra biện pháp kích thích nhu cầu nội địa, vấn đề mất cân bằng trên phạm vi toàn cầu sẽ còn lâu mới được giải quyết.
Thâm hụt tài khoản vãng lai của Mỹ, thước đo tốt nhất về thương mại giữa nước này với phần còn lại của thế giới, giảm từ mức 6% GDP năm 2006 xuống 3% GDP năm 2009. Con số này có thể về 0%? Điều này suýt nữa đã xảy ra vào năm 1991 sau 5 năm kinh tế Mỹ tăng trưởng mạnh. Lần này, mức thâm hụt lớn hơn và kinh tế phần còn lại của thế giới yếu hơn. Chỉ cần thâm hụt tài khoản vãng lai của Mỹ ở mức 3% GDP đã là hợp lý bởi điều đó sẽ giúp làm chậm tăng trưởng nợ nước ngoài của Mỹ.
Ngọc Diệp
Tổng hợp theo Dân Trí,VnMedia/Economist

Chúc mọi người thành công.
Hãy để lại lời góp ý của mình bằng cách Click vào nhận xét, sau đó để lại lời góp ý, (có thể chọn 1 hộp thư để đăng ký hoặc chọn mục Nặc danh các bạn nhé).

Nghiệp vụ thị trường mở



Nghiệp vụ thị trường mở

Tổng hợp nguồn wikipedia
Nghiệp vụ thị trường mở là hoạt động ngân hàng trung ương mua vào hoặc bán ra những giấy tờ có giá của chính phủ trên thị trường. Thông qua hoạt động mua bán giấy tờ có giá, ngân hàng trung ương tác động trực tiếp đến nguồn vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng, từ đó điều tiết lượng cung ứng tiền tệ và tác động gián tiếp đến lãi suất thị trường.
Tác động của nghiệp vụ thị trường mở
Trong bảng tổng kết tài sản của ngân hàng trung ương, tài sản có chủ yếu là giấy tờ có giá của chính phủ, tài sản nợ chủ yếu là tiền giấy và tiền gửi dự trữ của các ngân hàng thương mại. Khi ngân hàng trung ương bán ra những giấy tờ có giá của chính phủ trên thị trường như trái phiếu chính phủ, ngân hàng trung ương sẽ "thu tiền" về theo cơ chế sau: tài khoản vãng lai của người mua trái phiếu chính phủ bị ngân hàng thương mại ghi nợ và ngân hàng trung ương sẽ ghi giảm tài khoản tiền gửi dự trữ của các ngân hàng thương mại tại đó. Vì tỷ lệ tiền mặt dự trữ của ngân hàng thương mại bằng tiền gửi dự trữ tại ngân hàng trung ương cộng với tiền mặt tại két dự trữ của họ nên khi tài khoản tiền gửi dự trữ của các ngân hàng thương mại tại ngân hàng trung ương giảm xuống, cơ sở tiền tệ đã giảm đi làm giảm cung tiền một lượng bằng giá trị của trái phiếu chính phủ bán ra nhân với số nhân tiền tệ. Ngược lại, khi ngân hàng trung ương mua vào giấy tờ có giá của chính phủ, nó sẽ ghi tăng tài khoản dự trữ của các ngân hàng thương mại và làm tăng cơ sở tiền tệ dẫn đến cung tiền tăng. Việc ghi tăng tài khoản dự trữ của các ngân hàng thương mại có thể dẫn đến kết cục ngân hàng trung ương phải in thêm tiền giấy nếu các ngân hàng thương mại có nhu cầu lớn về tiền giấy trong khi tiền giấy của ngân hàng trung ương không đủ đáp ứng.Sử dụng biên pháp này khi ngân hàng muốn thắt chặt tiền tệ
Các loại nghiệp vụ thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở của các ngân hàng trung ương chủ yếu có hai loại: mua bán giấy tờ có giá dài hạn và mua bán giấy tờ có giá ngắn hạn. Ở Mỹ, nghiệp vụ thị trường mở chủ yếu được thực hiện đối với trái phiếu chính phủ dài hạn. Ở Việt nam, theo Luật Ngân hàng Nhà nước Việt nam, nghiệp vụ thị trường mở chỉ là việc mua bán giấy tờ có giá ngắn hạn như tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác.
Tổng hợp nguồn wikipedia
Chúc mọi người thành công.
Hãy để lại lời góp ý của mình bằng cách Click vào nhận xét, sau đó để lại lời góp ý, (có thể chọn 1 hộp thư để đăng ký hoặc chọn mục Nặc danh các bạn nhé).

Giả thuyết thị trường hiệu quả


Giả thuyết thị trường hiệu quả

Nguồn tổng hợp

             Giả thuyết thị trường hiệu quả là một giả thuyết của lý thuyết tài chính cho rằng giá cả trên các thị trường có tính chất đầu cơ, đặc biệt là thị trường chứng khoán phản ánh đầy đủ mọi thông tin đã biết, hay nói cách khác, phản ánh đầy đủ kỳ vọng của các nhà đầu tư. Do đó không thể kiếm được lợi nhuận bằng cách căn cứ vào các thông tin đã biết hay những hình thái biến động của giá cả trong quá khứ. Có thể nói một cách ngắn gọn là các nhà đầu tư không thể khôn hơn thị trường[1]. Khái niệm hiệu quả ở đây được dùng với hàm ý hấp thụ thông tin nhanh chóng chứ không phải các nguồn lực tạo ra sản lượng tối đa như trong các lĩnh vực kinh tế học khác. Thông tin cũng được hiểu là những tin tức có thể ảnh hưởng đến giá cả và không dự đoán trước được.

Cơ sở lý luận
             Từ khi thị trường chứng khoán ra đời, đã có rất nhiều lý thuyết dày công nghiên cứu phương pháp đầu tư có lợi nhuận cao trên thị trường này như phân tích cơ bản, phân tích kỹ thuật... hay các quy tắc mua sau khi giá tăng 2 ngày; mua khi có tin xấu, bán khi có tin tốt...Tuy vậy kết quả của nó không thỏa mãn mong muốn của những nhà đầu tư. Một nghiên cứu của Alfred Cowles[2] về hoạt động của những nhà môi giới chứng khoán đã dẫn đến kết luận rằng tính trung bình, lợi nhuận đem lại từ các danh mục đầu tư do họ thực hiện cũng không hơn một danh mục đầu tư được lựa chọn ngẫu nhiên. Những nghiên cứu về xu hướng giá của thị trường chứng khoán sử dụng số liệu thống kê trong nhiều năm cũng rút ra: chỉ có một điều chắc chắn đối với giá cổ phiếu là chúng lên xuống rất thất thường[3]. Những điều này đã dẫn đến một lý thuyết gọi là lý thuyết tấm bia trong việc lựa chọn cổ phiếu để đầu tư: nhà đầu tư có thể phóng một cái phi tiêu vào bảng danh mục cổ phiếu (như Nhật báo phố Wall chẳng hạn) để chọn; tốt hơn cả là đa dạng hóa danh mục đầu tư thậm chí mua tất cả các loại cổ phiếu niêm yết (mua chỉ số chứng khoán). Nói tóm lại, những nghiên cứu trong nhiều thập kỷ qua đưa đến kết luận không thể kiếm lợi nhuận cao trên thị trường chứng khoán bằng các quy tắc hay công thức bởi vì nhìn chung nó cũng không tốt hơn một cơ cấu đầu tư chứng khoán được đa dạng hóa và lựa chọn ngẫu nhiên. Điều này đã khiến cho các nhà lý thuyết tài chính đi sâu nghiên cứu nhằm tìm ra câu trả lời tại sao một thị trường tài chính hoạt động tốt lại loại bỏ được tình trạng lợi nhuận quá cao trong một thời gian dài. Giả thuyết thị trường hiệu quả là một câu trả lời:

    * Thị trường hiệu quả (tiếng Anh: effecient market) là nơi mà tại bất kỳ thời điểm nào, tất cả các thông tin mới đều được những người tham gia thị trường nắm bắt và tức thì được phản ánh vào trong giá cả thị trường. Ví dụ: tin một công ty dầu lửa phát hiện ra mỏ dầu mới có trữ lượng lớn được công bố lúc 10 giờ sáng ngày hôm nay thì ngay lập tức thông tin đó sẽ được phản ánh vào giá cả khiến cho nó được đẩy lên ở mức thích hợp. Ở Mỹ đã có những nghiên cứu đo lường tốc độ của sự điều chỉnh giá cả và kết quả là chỉ có thể kiếm được lợi nhuận khi mua chứng khoán trong vòng 30 giây sau khi thông tin mới được công bố rộng rãi.[4]
    * Bước ngẫu nhiên: giả thuyết thị trường hiệu quả đưa ra một phương pháp để phân tích diễn biến giá cả của những thị trường đầu cơ có tổ chức, theo đó giá cả của thị trường này lên xuống thất thường và không thể dự kiến trước được như những bước ngẫu nhiên trong một khoảng thời gian. Các nghiên cứu về chỉ số giá chứng khoán của toàn bộ thị trường cũng như của một cổ phiếu cho thấy đồ thị diễn biến của nó cũng giống như đồ thị kết quả tung ngẫu nhiên một đồng xu. Giả thuyết thị trường hiệu quả giải thích rằng sở dĩ có tình trạng này là do những thông tin mới ngay tức thì được phản ánh vào trong giá cả đồng thời những thông tin này có tính không dự đoán trước được nên diễn biến của giá cả cũng vậy.

Tranh luận về giả thuyết thị trường hiệu quả
    * Nếu tất cả những người tham gia thị trường đều chấp nhận giả thuyết thị trường hiệu quả thì họ có thể sẽ không quan tâm đến các thông tin mới nữa và khi đó giá cả sẽ không phản ánh đầy đủ các thông tin này. Tuy vậy những nhà lý thuyết thị trường hiệu quả lập luận rằng không phải tất cả mọi người đều phản ứng như thế, hơn nữa nếu có tình trạng đó thì sẽ có những người thu được lợi nhuận thặng dư dựa trên các thông tin cũ khiến cho nhiều người sẽ cùng hành động tương tự và kết quả là thị trường lại trở về trạng thái hiệu quả. Tóm lại, thị trường hiệu quả là một cơ chế tự giám sát và ở trạng thái ổn định.
    * Trong số những người tham gia thị trường sẽ có một số hoặc nhanh nhạy, thông minh hơn hoặc có rất nhiều nguồn lực để thu thập thông tin nhằm giảm thiểu khả năng có những bất thường trong tương lai thì điều gì sẽ xảy ra? Câu trả lời là có không ít những người như vậy trên thị trường và sự cạnh tranh giữa họ sẽ tạo ra cơ chế kiểm soát, tự cân bằng để không có lợi nhuận thặng dư cao. Tuy nhiên một số rất ít người có sự nhạy bén và khả năng đặc biệt có thể thu được lợi nhuận cao hơn những người còn lại.

Tuy vậy giả thuyết thị trường hiệu quả không giải thích được một cách thuyết phục những hiện tượng sau:
    * Sự sụt giảm mạnh mẽ của giá cả chứng khoán trong những thời điểm nào đó ví dụ như đã xảy ra ở thị trường chứng khoán Mỹ từ 15 tháng 10 đến ngày Thứ Hai Đen 19 tháng 10 năm 1987. Khi nhà kinh tế học James Tobin[5] nói rằng: không có một yếu tố hữu hình nào có thể tạo ra sự chênh lệch đến 30% trong giá trị cổ phiếu thì các lý thuyết gia của thị trường hiệu quả không thể đưa ra được lập luận phản bác.
    * Giả thuyết thị trường hiệu quả tỏ ra đúng với những cổ phiếu riêng rẽ chứ không hoàn toàn đúng đối với toàn bộ thị trường. Thị trường chứng khoán trong dài hạn có những biến động tự đảo ngược rõ rệt mà nhiều nhà kinh tế học cho rằng đó là kết quả của tâm lý chung của hầu hết những người tham gia thị trường. Khi thị trường bị ảnh hưởng bởi làn sóng tâm lý thì trên góc độ vĩ mô không một nỗ lực cá nhân nào có đủ nguồn lực để đảo ngược.
Những hạn chế này của giả thuyết thị trường hiệu quả đã thúc đẩy các nghiên cứu đưa đến lý thuyết kinh tế học hành vi nói chung và tài chính hành vi học nói riêng.

Nguồn tổng hợp
Chúc mọi người thành công.
Hãy để lại lời góp ý của mình bằng cách Click vào nhận xét, sau đó để lại lời góp ý, (có thể chọn 1 hộp thư để đăng ký hoặc chọn mục Nặc danh các bạn nhé).
 

Dự đoán VNINDEX tuần 11.10.2010 đến 15.10.2010

Dự đoán VNINDEX tuần 11.10.2010 đến 15.10.2010

Dự đoán HOSE - chu kỳ trung bình 1 tuần và 2 tuần:
+ Chu kỳ 1 tuần: Dự đoán sẽ tiếp tục tăng trong khoảng 1-2 tuần nữa với tốc độ chậm. Tình hình này sẽ rất khó cho những NĐT nhỏ và dân "Lướt sóng".

Hình 01 - Dự đoán VNINDEX chu kỳ 1 tuần từ 11.10.2010 đến 15.10.2010 - nguồn chungkhoanmoingay
+ Chu kỳ 2 tuần: Dự đoán xu hướng tăng trong khoảng 2 bước nữa tương ứng 4 tuần. Trong biên độ hẹp 450 (+/- 5%) tương đương khoảng 428.00 đến 472.00 - hiện tại là 459.32 (thứ 2 11.10.2010).

Hình 02 - Dự đoán VNINDEX chu kỳ 2 tuần từ 11.10.2010 đến 15.10.2010 - nguồn chungkhoanmoingay
Kết luận: Tình hình vẫn tăng trong biên độ hẹp.
Chúc mọi người thành công.
Bài này xuất bản từ: http://www.chungkhoanmoingay.blogspot.com (bản gốc). Mọi trích dẫn xin đính kèm địa chỉ này. (Bản quyền tác giả giữ).
Hãy để lại lời góp ý của mình bằng cách Click vào nhận xét, sau đó để lại lời góp ý, (có thể chọn 1 hộp thư để đăng ký hoặc chọn mục Nặc danh các bạn nhé).