Thứ Năm, 9 tháng 12, 2010

Một số chỉ báo xu hướng trong phân tích kỹ thuật


Một số chỉ báo xu hướng trong phân tích kỹ thuật
Sưu tầm



1. Chỉ báo Aroon
Là một chỉ báo được viết bởi Tusher Chande. Aroon tiếng Phạn (Sanskrit) có nghĩa là "Bình minh ló sáng" hay "hoàng hôn sớm mai". Aroon cho phép người sử dụng biết trước sự thay đổi giá của cổ phần trong một phạm vi xu hướng đang diễn ra. Có nhiều thông tin về chỉ số này trong tạp chí Technical Analysis of Stocks & Commodities xuất bản tháng 9/1995 do ông Tushar Chande viết.
Sự thay đổi biết trước này được đo lường bởi số phiên (periods) đã diễn ra trước đó, cụ thể là: x-phiên cao và x-phiên thấp nhất. Aroon gồm có hai đường; một là để diễn tả x-phiên cao (Aroon Up) và đường kia diễn tả x-phiên thấp (Aroon Down).
Thực tế nó được vẽ giống như “stochastic” và được tỉ lệ trong phạm vi từ 0 đến 100. Chúng được mặc định giá trị là 14 phiên. Nếu là cổ phần tăng trong 14 phiên liên tục thì Aroon Up =100, khi cổ phần đó giảm 14 phiên liên tục thì Aroon Down = 100. Nếu cổ phần đó không tăng 14 phiên thì Aroon Up = 0 và không giảm 14 phiên thì Aroon Down = 0.
Giải thích cho dễ hiểu: một phần nhỏ trong những vấn đề lâu đời của hệ thống mua bán (trading system) là khó xác định xu hướng đang diễn ra hoặc phạm vi đang mua bán của thị trường có sẵn: Chỉ báo tiếp tục xu hướng cũng giống như là MACD và Moving Averages, các bẫy của thị trường (whipsaw) hoặc không có xu hướng, bế tắc, các vùng quá mua (overbought), quá bán (oversold). Chỉ báo Aroon sẽ giúp chúng ta xác định xu hướng tiếp tục hoặc chỉ dẫn các vùng quá mua, quá bán rất tốt.
+ Cách sử dụng
Có 3 trạng thái cơ bản nhất về chỉ số Aroon: mức độ cao nhất tại 0 đến 100, so sánh sự di chuyển giữa Aroon Up và Aroon Down, điểm giao cắt giữa  Aroon Up và Aroon Down.
a. Mức độ: Khi Aroon Up ở lằn 100 thì cho biết cường độ là rất mạnh. Nếu Aroon Up liên tục ở vùng giữa 70 và 100 thì đó là một cái xu hướng tăng. Tương tự như thế nếu Aroon Down ở lằn 100 thì cho biết khả năng là yếu nhất, nếu Aroon Down liên tục ở vùng 70 đến 100 thì đó là một xu hướng giảm.
Một xu hướng tăng giá mạnh là Aroon Up phải liên tục nằm trong vùng giữa 70 và 100 trong khi Aroon Down phải liên tục nằm trong vùng giữa 0 và 30. Tương tự như vậy cho xu hướng giảm giá mạnh.
b. So sánh sự di chuyển: mỗi khi Aroon Up và Aroon Down di chuyển song song (xấp xỉ tại những mức giống nhau) là củng cố xu hướng cho đến khi mức độ được xác lập hay điểm giao cắt giữa chúng xảy ra.
c. Điểm giao cắt: Khi Aroon Down cắt trên Aroon Up thì cho biết khả năng là yếu nhất, giá sẽ bắt đầu giảm mạnh . Khi Aroon Up cắt trên Aroon Down thì khả năng là mạnh nhất, giá sẽ bắt đầu tăng.
+ Ví dụ minh họa
Với hình dưới chúng ta thấy những vùng màu xanh lá là những thời kỳ có xu hướng tăng rất mạnh, còn những vùng màu tím là thời kỳ có xu hướng giảm giá mạnh. Còn hiện tại là xu hướng tăng nhưng yếu (vì Aroon Down không nằm trong vùng 0-30).
Hình 01 - Chỉ báo Aroon
2. Directional movement index (DMI)
+ Sử dụng kết hợp với Average Directional Index (ADX)
Đây là chỉ báo tiếp theo của xu hướng thị trường được ông Welles Wilder chế tạo ra, công thức tính tóan hết sức rắc rối và khó hiểu nhưng may thay nó lại rất dễ sử dụng.
ADX khi được kết hợp với cặp +DMI (chỉ số hướng tích cực) và -DMI (chỉ số hướng tiêu cực) sẽ cung cấp đầy đủ và chính xác cho hệ thống mua bán (trading system). Nó có thể sẽ trở thành 1 chỉ báo đầy đủ chi tiết trong 1 không gian giới hạn nhưng vẫn thỏa mãn được những khái niệm chung.
Đầu tiên chúng ta cần nói về directional movement indicator (chỉ số hướng vận động) + hoặc -DM. Nó được định nghĩa đơn giản như là phần lớn nhất hướng ra ngòai phía trước phạm vi xác định. Nếu là ở mức cao thì nó là hướng vận động tích cực (+DM), còn thấp thì là hướng vận động tiêu cực (-DM). DM có giá trị 0 khi sự giao động trong phạm vi là nhỏ.
Nói 1 cách chính xác hơn thì chỉ số này được tính tóan trên cơ sở là chỉ số trung bình của +DMI và -DMI trong phạm vi đang xét. Thông thường nó sẽ có giá trị từ 0 cho đến 100 bởi vì nó chỉ là 1 chỉ số có giá trị thuần túy củ đường hướng lên hay xuống của thị trường, số dương hay âm biểu thị cho sự vận động lên hay xuống của thị trường.
Chỉ số DMI gồm 2 đường thẳng khác biệt, và thường được sử dụng đường dưới -DMI là màu đỏ, đường trên +DMI là màu xanh.
+ Average Directional Index (ADX)
Bước tiếp theo là ta tính tóan chỉ số hướng (direction index) bao gồm: +DMI và -DMI, nó tỉ lệ với nhau trong cùng 1 phạm vi. Nó biểu thị cho vùng trung bình giữa 2 vùng tăng và giảm của xu hướng thị trường. Nó được cấu tạo bởi 2 chỉ báo +DI và -DI. DX là được tính tóan bở sự chênh lệch của 2 chỉ báo này, lấy tổng 2 chỉ báo này chia cho 100 ta được con số phần trăm, con số này sẽ giao động từ 1cho tới 50. Làm trơn chỉ số này trong thị trường ngắn hạn, Wilder đã dùng kỹ thuật trung bình và đã tính tóan ra chỉ số ADX.
+ Cách sử dụng
a. Đầu tiên ta có tín hiệu mua khi +DMI cắt và nằm trên -DMI (lưu ý giá có qua điểm cực đại trước khi mua hay không), tín hiệu bán khi -DMI cắt và nằm trên +DMI.
b. Tính hiệu cắt của DMI cho tín hiệu bán rất chính xác khi thị trường đang trong 1 xu thế rõ ràng (trending market), và không chính xác khi thị trường ảm đạm, không có xu hướng (sideways market). Wilder đưa ra cách sử dụng khi thị trường đang trong 1 xu hướng. Khi ADX tăng và điểm tăng phải trên +DMI và -DMI. Nếu điểm tăng này ở giá trị cao thì đường giá sẽ chống lại với xu hướng cơ bản. Điều đáng nhớ là ADX là chỉ báo xu hướng nhưng nó không phản ánh hướng đi của xu hướng.
Trong ví dụ dưới đây, ngay tại đường thẳng đứng đầu tiên cho signal sell (vì có sự cắt của DMI), cái signal sell này được hỗ trợ bởi ADX vì tại điểm này ADX cao hơn các giá trị +/-DMI. Đây là sự đảo chiềucủa xu hướng nhằm củng cố thị trường nó tương tự như tình trạng không xu hướng (non-trending) hay ảm đạm (sideways market). Tiếp đó ở đường thẳng đứng thứ 2 là 1 tín hiệu mua (+DMI cắt và nằm trên -DMI), ngay tại đó giá trị của ADX vẫn cao hơn giao điểm của DMI và vẫn lớn hơn 20 (vẫn là 1 xu hướng)
DMI là 1 chỉ báo được duy trì phần lớn khi thị trường là tăng (bull market), còn ADX tăng là chỉ báo thị trường sẽ tiếp tục xu hướng hiện hành. 

Hình 02 - Directional movement index (DMI)

3. Parabolic SAR
Đây là chỉ báo rất tốt về xu hướng tiếp theo của thị trường, một câu châm ngôn của những nhà đầu tư nhiều kinh nghiệm là "Xu hướng là bạn của chúng ta". Welles Wilder cho đây là chỉ báo đảo chiều (reversal) đáng tin cậy về mặt thời gian/giá. Nó bao gồm một lọat các điểm gọi là các điểm Stop And Reverse (SAR). Nếu phá vỡ những mức bảo vệ này thì thị trường sẽ được coi là đảo chiều.
Giống như giá bắt đầu 1 xu hướng thì những điểm SAR cũng bắt đầu chuyển động chậm vượt ra ngòai và hình thành 1 xu hướng đi lên.
Công thức tính toán
SAR tomorrow = SAR today + AF (EP trade – SAR today)
Trong đó
  • AF bắt đầu là 0.02 (giá trị mặt định) và sau khi tăng thêm 0.02 cho mỗi thanh giá và hướng tăng đột biến cho đến khi giá trị nó là 0.2.
  • EP = điểm tăng giá quá xa. Mỗi khi giá tăng trong 1 xu hướng tăng giá nó sẽ thiết lập ghi nhớ các vị trí hiện hành. Ngược lại khi thị trường xuống giá thì nó sẽ ghi nhớ những điểm đặt đó.
Đây là chỉ báo giúp cho nhà đầu tư hiểu rõ 1 xu hướng. Nó là 1 chỉ báo dễ sử dụng. Một điều hiển nhiên là đường giá luôn đi xuyên qua SAR trong mọi hướng. Nhà đầu tư nên dừng lại và suy ngẫm khi SAR bị xuyên qua.
Dưới đây là ví dụ cụ thể, các vị trí được đánh dấu cho thấy đường giá đi xuyên qua các đường SAR (màu đỏ).
Hình 03 - Parabolic SAR

4. Trend Channels – Kênh xu hướng
+ Cấu tạo
Kênh xu hướng bắt đầu từ đường xu hướng cơ bản và 1 đường song song tạo ra phần bên trong chứa đường giá. Trong trường hợp kênh xu hướng tăng, thì được vẽ bởi một đường xuyên qua các đỉnh và một đường song song sao cho phần bên trong ôm hết đường giá. Trong trường hợp kênh xu hướng giảm được vẽ bởi một đường xu hướng nối các đáy và một đường song song sao cho phần bên trong ôm hết đa số đường giá.
+ Cách sử dụng
  • Kênh xu hướng có thể sử dụng như là mục tiêu của các chỉ báo, nó định hướng được phạm vi mà khả năng đường giá di chuyển được.
  • Trong phần xu hướng thị trường, đôi lúc rất khó tìm đường hỗ trợ hay kháng cự, đặc biệt là thị trường đang tăng hoặc giảm. Khi thị trường đang tăng hay giảm đường giá chạy bên trong kênh xu hướng ta dễ dàng xác định được đỉnh hay đáy qua kênh xu hướng.
Nếu đường giá nằm ngòai kênh xu hướng và tiếp tục hướng đi đó ta có thể mở rộng kênh xu hướng hiện tại để dự đóan các điểm tiếp theo của giá hướng tới. Khi đường xu hướng bị gãy ta có thể sử dụng chúng như là 1 đường hỗ trợ hay kháng cự.
Hình 04 - Trend Channels – Kênh xu hướng
+ Biến tấu
Kênh xu hướng sử dụng để giới hạn sự nhấp nhô của giá, nhưng nó không đảm bảo độ chính xác đáng tin cậy. ví dụ dưới đấy cho thấy thị trường có thể tạo ra nhiều kên xu hướng nhỏ (kênh xu hướng phụ) trong một kênh xu hướng chính lớn và nó rất thường xảy ra nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Nó không chỉ là đường giá giảm trong kênh xu hướng giảm mà đôi lúc giá tăng trong kênh xu hướng giảm.

Hình 05 - Trend Channels – biến tấu kênh xu hướng

Đôi lúc các nhà đầu tư không quan tâm giá trị vượt qua kênh xu hướng này, mà đa số là dè dặt khi đường giá vượt ra khỏi kênh xu hướng. Khi đường giá từ dưới vượt qua kênh xu hướng và nó bẻ gãy kênh xu hướng tạo ra điểm thoát (breakout) và lúc đó kênh xu hướng sẽ trở thành đường hỗ trợ hay kháng cự.


Chúc mọi người thành công.
Hãy để lại lời góp ý của mình bằng cách Click vào nhận xét, sau đó để lại lời góp ý, (có thể chọn 1 hộp thư để đăng ký hoặc chọn mục Nặc danh các bạn nhé).

Lý Thuyết Dow


Lý Thuyết Dow

Sưu tầm

Những biến động thị trường với mọi xu hướng đều có thể được dự đoán trước trên cơ sở biến động giá trên các biểu đồ.
Phần lớn các chứng khoán tuân theo xu hướng cơ bản của thị trường.
Xu thế xu hướng cơ bản của thị trường được hiểu là “chỉ số giá bình quân” - phản ánh xu thế chung của một số cổ phiếu đại diện cho thị trường.
Các tiền đề:
Chỉ sử dụng giá đóng cửa: Giá phản ánh là giá đóng cửa, có thể dự đoán được, và tác động đến mối quan hệ cung cầu của thị trường.
Sử dụng chỉ số trung bình: Chỉ số trung bình là trung bình hóa tất cả:
* Các biến động từng ngày.
* Các điều kiện tác động lên cung - cầu các cổ phiếu.
* Những quyết định đầu tư bất ngờ không dự đoán được.
Giải thích lý thuyết Dow
Lý thuyết Dow được xây dựng dựa trên 6 nguyên lý cơ bản:
Nguyên lý 1:
* Gồm mọi thông tin: các yếu tố về kinh tế, chính trị, các yếu tố tâm lý, khả năng tăng trưởng lợi nhuận của công ty.
* Tất cả các kiến thức của tất cả những người tham gia vào thị trường (nhà giao dịch, nhà đầu tư, nhà quản trị danh mục…).
Nguyên lý 2:
Thị trường có 3 sự chuyển dịch
1. Sự dịch chuyển chính: (primary movement)
* Thị trường đầu cơ giá lên: (bull market)
Là sự dịch chuyển lên trên một cách rộng lớn, ít nhất là 18 tháng.
* Thị trường đầu cơ giá xuống: (bear market)
Là một sự giảm giá kéo dài và sẽ ngừng lại khi có những sự phục hồi đáng kể trong giá cổ phiếu.
2. Những phản ứng thứ cấp:
* Là sự sụt giảm quan trọng trong thị trường đầu cơ giá lên hoặc một sự tăng giá quan trọng trong thị trường đầu cơ giá xuống.
* Khoảng thời gian dịch chuyển nhìn chung thoái lùi từ 33% - 66% (1/3 đến 2/3).
* Kéo dài từ 3 tuần đến nhiều tháng, thông thường 3 tháng.
* Nó chỉ quan trọng trong việc hình thành nên một phần của sự dịch chuyển chính cũng như dịch chuyển thứ cấp.
3. Những sự dịch chuyển nhỏ: (minor movements)
Sự dịch chuyển này thể hiện như là một biến động nhẹ trong giá qua các ngày giao dịch, thời gian diễn ra rất ngắn.
Nguyên lý 3:
Mỗi xu hướng thường xảy ra trong ba giai đoạn riêng biệt.
Trong thị trường giá lên có 3 giai đoạn.
* Giai đoạn tích lũy: thể hiện việc mua có hiểu biết các nhà đầu tư tinh thông.
* Giai đoạn tham gia công chúng: xảy ra khi các mức giá bắt đầu gia tăng một cách nhanh chóng và những tin tức kinh doanh sẽ được cải thiện.
* Giai đoạn phân phối: khi những tin tức kinh tế trở nên tốt hơn và khi khối lượng có tính chất đầu cơ và sự tham gia công chúng gia tăng.
Trong thị trường giá xuống có 3 giai đoạn:
* Giai đoạn phân phối
* Giai đoạn hoảng loạn
* Giai đoạn bán bắt buộc
Nguyên lý 4:
* Các mối quan hệ giá và khối lượng tạo ra nền tảng cơ bản.
* Mối quan hệ cơ bản là khối lượng tăng khi giá phục hồi và thu hẹp khi giá giảm.
* Nếu khối lượng trở nên ứ đọng khi giá tăng và gia tăng khi giá giảm, cảnh báo rằng xu hướng chính sớm bị đảo ngược.
Nguyên lý 5:
Dấu hiệu tăng giá được đưa ra khi sự tăng giá liên tiếp tạo ra các đỉnh cao hơn và sự giảm giá xen vào tạo thành các đáy cao hơn. Và ngược lại đối với dấu hiệu giảm giá.
Nguyên lý 6:
Phải biết kết hợp chỉ số của các ngành tương hỗ cho nhau.
Vd:
* Chỉ số bình quân ngành công nghiệp: là trung bình giá của 20 cổ phiếu công nghiệp của Mỹ.
* Chỉ số bình quân ngành giao thông vận tải (Transportation): là trung bình giá của 12 cổ phiếu ngành giao thông vận tải Mỹ.
* Trong một nền kinh tế phát triển khi ngành công nghiệp phát triển thì ngành giao thông vận tải cũng phát triển theo nên 2 chỉ số bình quân ngành công nghiệp và bình quân ngành giao thông vận tải sẽ củng cố lẫn nhau.
(Nguồn tổng hợp)
Chúc mọi người thành công.
Hãy để lại lời góp ý của mình bằng cách Click vào nhận xét, sau đó để lại lời góp ý, (có thể chọn 1 hộp thư để đăng ký hoặc chọn mục Nặc danh các bạn nhé).


14 lời khuyên vàng của ông I.E.C. Haramis


14 lời khuyên vàng của ông I.E.C. Haramis
sưu tầm
1.    Nếu không đầu tư
Bạn sẽ bị thua lỗ.
2.    Nếu bạn không biết kiểm soát thua lỗ …
Bạn sẽ bị thua lỗ.
3.    Nếu bạn luôn nghe theo những lời khuyên …
Bạn sẽ bị thua lỗ.
4.    Nếu bạn không nghiên cứu kĩ trước khi đầu tư …
Bạn sẽ bị thua lỗ.
5.    Nếu bạn lo sợ …
Bạn sẽ bị thua lỗ.
6.    Nếu bạn chần chừ …
Bạn sẽ bị thua lỗ.
7.    Nếu bạn không biết rõ vấn đề tài chính của mình …
Bạn sẽ bị thua lỗ.
8.    Nếu bạn không hạch toán chi phí bình quân …
Bạn sẽ bị thua lỗ.
9.    Nếu bạn coi đầu tư là một trò chơi …
Bạn sẽ bị thua lỗ.
10. Nếu bạn tham lam …
Bạn sẽ bị thua lỗ.
11. Nếu bạn bỏ trứng vào một giỏ …
Bạn sẽ bị thua lỗ.
12. Nếu bạn không biết đâu là thời điểm đầu tư thích hợp …
Bạn sẽ bị thua lỗ.
13. Nếu bạn không chịu chấp nhận lỗ …
Bạn sẽ không bao giờ có lợi nhuận.
14. Nếu bạn theo những lời khuyên của I.E.C haramis, bạn có thể sẽ có lợi nhuận lớn từ việc đầu tư.

Chúc mọi người thành công.
Hãy để lại lời góp ý của mình bằng cách Click vào nhận xét, sau đó để lại lời góp ý, (có thể chọn 1 hộp thư để đăng ký hoặc chọn mục Nặc danh các bạn nhé).

Chỉ báo Parabolic SAR


Chỉ báo Parabolic SAR

Sưu tầm
PARABOLIC SAR là một Indicator được phát minh bởi ông J. Welles Wilder Jr, một cây đại thụ về PTKT cũng là người phát minh ra các chỉ số nổi tiếng như ATR (Average True Range), ADX (Average Direct Movement, RSI (Relative strength Index) trong quyển New Concepts in Technical Trading System.
Parabolic Sar ( Stop and Reverse ) nói về quan hệ giữa giá và thời gian để hình thành những tín hiệu mua bán , xác định điểm dừng và đảo chiều ( STOP AND REVERSE ) của xu hướng dựa vào mối quan hệ giữa giá và thời gian.
Parabolic SAR là chỉ báo kết hợp giữa giá và thời gian để hình thành những tín hiệu mua – bán trên thị trường. Parabolic SAR cũng là công cụ hiệu quả để xác định vùng đặt điểm “dừng lỗ” (stop loss).

Đây là chỉ báo rất tốt về xu hướng tiếp theo của thị trường, một câu châm ngôn của những nhà đầu tư nhiều kinh nghiệm là "Xu hướng là bạn của chúng ta". Welles Wilder cho đây là chỉ báo đảo chiều (reversal) đáng tin cậy về mặt thời gian/giá. Nó bao gồm một lọat các điểm gọi là các điểm Stop And Reverse (SAR). Nếu phá vỡ những mức bảo vệ này thì thị trường sẽ được coi là đảo chiều.
Giống như giá bắt đầu một xu hướng thì những điểm SAR cũng bắt đầu chuyển động chậm vượt ra ngoài và hình thành một xu hướng đi lên.

Công thức thính toán: SAR tomorrow = SAR today + AF (EP trade - SAR today)

Trong đó:
- AF bắt đầu là 0.02 (giá trị mặc định) và sau khi tăng thêm 0.02 cho mỗi thanh giá và hướng tăng đột biến cho đến khi giá trị nó là 0.2.
- EP = điểm tăng giá quá xa. Mỗi khi giá tăng trong một xu hướng tăng giá nó sẽ thiết lập ghi nhớ các vị trí hiện hành. Ngược lại khi thị trường xuống giá thì nó sẽ ghi nhớ những điểm đặt đó.

Ví dụ :
Công thức tính Sar vào ngày thứ 5 như sau :
SAR5 = SAR4 + AF( H4 - SAR4)
Trong đó : AF (ACCELARTION FACTOR) : bước bắt đầu bằng 0.02 và mỗi ngày sẽ tăng theo bước 0.02x2 sau đó 0.02x3 , ngày kế tiếp 0.02x4 cho đến giá trị max là 0.2
H4 : Giá cao nhất trong 4 ngày trước đó ( nếu trong quá trình giá tăng ) hoặc giá thấp nhất trong 4 ngày trước đó ( nếu trong quá trình giá giảm).

Ví dụ : Vnindex ngày 4/6/09 có giá mở cửa là 454.06 gía cao nhất 458.19 giá thấp nhất 454.06 giá đóng cửa 458.19 ,SAR có giá trị là 411.245,

Vậy SAR của ngày 5/6/09 sẽ là 411.245 + 0.02x3( 458.19 - 411.245) = 414.062

Như tên gọi của SAR ( STOP AND REVERSE ) điểm quan trọng nhất của nó là điểm DỪNG VÀ ĐẢO CHIỀU. Tại điểm đảo chiều giá trị của SAR sẽ bằng giá trị của giá cao nhất (của quá trình tăng giá trước đó) hoặc là giá trị thấp nhất của giá ( của quá trình giảm giá tước đó ).
Khi SAR cắt đường giá từ dưới lên thì sẽ cho tín hiệu bán tại điểm đảo chiều và ngược lại khi SAR cắt đường giá từ trên xuống thì sẽ cho tín hiệu mua tại điểm đảo chiều.



Hình 01 – Tín hiệu mua-bán với Parabolic Sar

Như vậy theo công thức trên, khi giá và SAR tiến lại gần nhau ta có thể tính trước được cho ngày hôm sau liệu SAR có thể đảo chiều hay không để có phương án hợp lý cho System của mình.
Đây là chỉ báo giúp cho nhà đầu tư hiểu rõ một xu hướng. Nó là một chỉ báo dễ sử dụng. Một điều hiển nhiên là đường giá luôn đi xuyên qua SAR trong mọi hướng. Nhà đầu tư nên dừng lại và suy ngẫm khi SAR bị xuyên qua.
Tín hiệu mua: Mua khi giá đóng cửa nằm trên đường Parabolic SAR và đồng thời đường Parabolic SAR phải cao hơn đường giá. Có nghĩa là khi đường Parabolic SAR thay đổi từ giá trị cao chuyển sang giá trị thấp thì nhà đầu tư nên “dừng lại”; thực hiện mua rải hay bán khống để chờ tín hiệu đảo chiều xu hướng mạnh xảy ra hoặc có thể mua để đầu tư dài hạn.

Tín hiệu bán: Tín hiệu bán xuất hiện khi giá đóng cửa nằm dưới Parabolic SAR và đồng thời đường Parabolic SAR thấp hơn đường giá. Ngay tại thời điểm này đường Parabolic SAR thay đổi từ mức thấp hơn đường giá lên mức cao hơn đường giá. Các nhà đầu tư nên “dừng lại”, cũng có thể bán để thoát khỏi xu hướng dài hạn hiện hành và chờ sự đảo chiều trong ngắn hạn.


Hình 02 – Tín hiệu mua-bán với Parabolic Sar

Đặt điểm “dừng lỗ”
Hiệu quả lớn nhất khi dùng Parabolic SAR để xác định vùng đặt điểm dừng lỗ là nhằm bảo vệ lợi nhuận hoặc giảm thiểu thua lỗ trong việc kinh doanh chứng khoán.
Hình 03 – Đặt điểm dừng lỗ

Parabolic SAR là công cụ xác định vùng đặt điểm dừng lỗ hiệu quả, được diễn tả theo 2 lập luận sau:
Đặt điểm dừng lỗ thấp hơn giá của nhà đầu tư dài hạn mua vào hoặc trên mức giá của nhà đầu tư ngắn hạn chấp nhận mua. Sử dụng Parabolic SAR như là một công cụ điều chỉnh điểm dừng lỗ, điểm dừng lỗ sẽ từ từ tiến lên theo xu hướng dài hạn và thấp hơn xu hướng ngắn hạn. Nhưng hiệu quả nhất thì nhà đầu tư nên chốt lại mức lợi nhuận kỳ vọng của mình.
Parabolic SAR hành động như là khoảng dừng về mặt thời gian (thời điểm dừng). Thời điểm dừng được sử dụng tùy vào từng nhà đầu tư. Nếu sự mong đợi của nhà đầu tư đó không xảy ra thì lý trí của nhà đầu tư đó bắt đầu bị buông lỏng một cách tự nhiên, tức là kỷ luật kinh doanh, mua-bán bị vi phạm. Khi đó, nhà đầu tư nên phải thoát khỏi thị trường. Tương tự như vậy, Parabolic SAR đã kết hợp với thời gian để làm cho đường giá hoạt động theo sự tính toán của nhà đầu tư. Nếu đường giá không di chuyển theo hướng đã tính toán trước thì Parabolic SAR sẽ là tín hiệu để xác định thời điểm thoát khỏi thị trường.

+ Mở rộng
Đồ thị của Microsoft (MSFT) cho thấy đường Parabolic SAR có thể đón bắt phần lớn các xu hướng và cho phép trader thu lợi từ các tín hiệu buy/sell. Thông số cài đặt ngầm định theo khuyến cáo của Wilder giảm bớt sự dao động, nhưng không thể loại trừ hoàn toàn báo hiệu sai (mũi tên đen). Cách sử dụng công cụ này : trader sẽ đóng giao dịch long khi giá chuyển xuống bên dưới đường SAR (mũi tên đỏ) và đóng giao dịch short khi giá chuyển lên bên trên đường SAR (mũi tên xanh).
Hình 4 - báo hiệu sai trong cách xác định Đường Parabolic SAR (mũi tên đen).

Đường Parabolic SAR hoạt động tốt khi có xu hướng mạnh, và Wilder tự ước lượng khoảng 30% thời gian có xu hướng mạnh. Do đó, người sử dụng phải xác định xu hướng thị trường trước tiên bằng các công cụ khác ví dụ như đường ADX của Wilder.


Chúc mọi người thành công.
Hãy để lại lời góp ý của mình bằng cách Click vào nhận xét, sau đó để lại lời góp ý, (có thể chọn 1 hộp thư để đăng ký hoặc chọn mục Nặc danh các bạn nhé).