Thứ Hai, 20 tháng 12, 2010

Dự đoán VNINDEX sau ngày 17.12.2010

Dự đoán VNINDEX sau ngày 17.12.2010


Hình 01 - VNINDEX chu kỳ Ngày - nguồn chungkhoanmoingay

Hình 02 - VNINDEX chu kỳ 1 Tuần - nguồn chungkhoanmoingay

Hình 03 - VNINDEX chu kỳ 2 Tuần - nguồn chungkhoanmoingay
+ Dự đoán:
Đường PHLNS trong chu kỳ Ngày (hình 01) đang vào giai đoạn Tăng, tương ứng đường giá có sự Giảm. Xét trong chu kỳ 1 Tuần (hình 02) ta thấy Đường PHLNS tiến sát đến ngưỡng hỗ trợ, tương ứng đường giá tiến sát đến ngưỡng kháng cự mạnh. (đường chấm màu đỏ) chính vì thế cần phải cân nhắc khi tham gia thị trường giai đoạn này. Với chu kỳ 1 Tuần thì khả năng đường PHLNS sẽ bước thêm 2 bước nữa để chạm ngưỡng hỗ trợ. Xét trong chu kỳ 2 Tuần (hình 03) chúng ta thấy đường PHLNS trông có vẻ rất lưỡng lự khi quyết định sẽ tạo xu hướng như thế nào. Vậy rõ ràng, trong 2 bước nữa của đường PHLNS tương ứng với 4 tuần tiếp theo, đường PHLNS sẽ có xu hướng đi ngang hoặc giảm nhẹ, tương ứng đường giá sẽ dao động ngang hoặc tăng nhẹ.
Chúc mọi người thành công.
Bài này xuất bản từ: http://www.chungkhoanmoingay.blogspot.com (bản gốc). Mọi trích dẫn xin đính kèm địa chỉ này. (Bản quyền tác giả giữ).
Hãy để lại lời góp ý của mình bằng cách Click vào nhận xét, sau đó để lại lời góp ý, (có thể chọn 1 hộp thư để đăng ký hoặc chọn mục Nặc danh các bạn nhé).

Dự đoán một số cổ phiếu HTV

Dự đoán một số cổ phiếu 
HTV, SSI, VCB, STB


KHUYẾN NGHỊ MUA
Hình 01 - Dự đoán - Đường PHLNS - chu kỳ Ngày (20.12.2010)
Hình 02 - Dự đoán - Đường PHLNS - chu kỳ 1 Tuần (20.12.2010)
Hình 03 - Dự đoán - Đường PHLNS - chu kỳ 2 Tuần (20.12.2010)

+ Dự đoán : Với Đường PHLNS chu kỳ 2 Tuần (hình 03) - khả năng rất cao đường này sẽ có sự đảo chiều (Giảm) tương ứng với đường giá sẽ Tăng trở lại. xác xuất dự đoán cho Đường PHLNS là 90%. Khuyến nghị MUA.


KHUYẾN NGHỊ MUA
Hình 04 - Dự đoán - Đường PHLNS - chu kỳ Ngày (20.12.2010)

Hình 05 - Dự đoán - Đường PHLNS - chu kỳ 1 Tuần (20.12.2010)
Hình 06 - Dự đoán - Đường PHLNS - chu kỳ 2 Tuần (20.12.2010)

 + Dự đoán : Với Đường PHLNS chu kỳ Ngày (hình 04) thì khả năng sẽ Tăng trong vài ngày (có thể chỉ là tăng nhẹ, tương ứng với sự điều chỉnh giá Giảm). Với Đường PHLNS chu kỳ 1 Tuần (Hình 05) thì khả năng đường này sẽ còn tiếp tục Giảm, tương ứng với đường giá sẽ tiếp tục Tăng. Và với đường PHLNS chu kỳ 2 Tuần thì khả năng đường PHLNS tiếp tục Giảm tương ứng với đường giá sẽ tiếp tục Tăng, tối thiểu là 2 bước nữa tương ứng với 4 tuần. Khuyến nghị MUA (nhất là trong giai đoạn điều chỉnh này).



 KHUYẾN NGHỊ MUA
Hình 07 - Dự đoán - Đường PHLNS - chu kỳ Ngày (20.12.2010)

Hình 08 - Dự đoán - Đường PHLNS - chu kỳ 1 Tuần (20.12.2010)

Hình 09 - Dự đoán - Đường PHLNS - chu kỳ 2 Tuần (20.12.2010)

+ Dự đoán : đường PHLNS chu kỳ Ngày (hình 07) thể hiện xu hướng Giảm - điều nay do quá trình điều chỉnh giá khi CP này chia cổ tức (tin - VCB: 15/12 chốt danh sách mua hơn 436 triệu cp, tỷ lệ 100:3) Chính vì thếcó sự sai lệch về giá trị và đồ thị. Nhưng với đường PHLNS chu kỳ 1 Tuần (hình 08) thì khả năng điều chỉnh giảm trong 1 tuần là rất có thể. và đường PHLNS chu kỳ 2 Tuần (hình 09) thì cho thấy trong ngắn hạn 1-2 tuần tới thì đường PHLNS sẽ có sự đảo chiều, tương ứng với đường giá sẽ Tăng. Khuyến nghị MUA từ từ và gia tăng khi thị trường bắt đầu tăng trở lại.

 KHUYẾN NGHỊ MUA
Hình 10 - Dự đoán - Đường PHLNS - chu kỳ Ngày (20.12.2010)


Hình 11 - Dự đoán - Đường PHLNS - chu kỳ 1 Tuần (20.12.2010)

Hình 12 - Dự đoán - Đường PHLNS - chu kỳ 2 Tuần (20.12.2010)

+ Dự đoán: Với chu kỳ ngày (hình 10) CP này cho thấy đang đi vào giai đoạn Giảm. Và theo quan điểm cá nhân chungkhoanmoingay thì đây chỉ mang tính chất điều chỉnh ngắn hạn. Và với đường PHLNS chu kỳ 1 Tuần (hình 11) thì đường PHLNS vẫn thể hiện xu hướng Giảm, tương ứng với đường giá vẫn đang torng xu hướng Tăng, tối thiểu là 2 bước, tương ứng với 2 tuần nữa. và với đường PHLNS chu kỳ 2 Tuần (hình 12) thì đường PHLNS đã bắt đầu đổi chiều Giảm, tương ứng với đường giá bắt đầu Tăng, tối thiểu là 2 bước nữa, tương ứng 4 tuần nữa. Chính vì thế Khuyến nghị MUA vào từ từ trong giai đoạn điều chỉnh này. Yên tâm chờ đợi và đây tương ứng với đáy cũ ở điểm 33.

Chúc mọi người thành công.
Bài này xuất bản từ: http://www.chungkhoanmoingay.blogspot.com (bản gốc). Mọi trích dẫn xin đính kèm địa chỉ này. (Bản quyền tác giả giữ).
Hãy để lại lời góp ý của mình bằng cách Click vào nhận xét, sau đó để lại lời góp ý, (có thể chọn 1 hộp thư để đăng ký hoặc chọn mục Nặc danh các bạn nhé).

Thứ Bảy, 18 tháng 12, 2010

Cổ phiếu ngân hàng: Không dễ trở lại ngôi vua


Cổ phiếu ngân hàng: Không dễ trở lại ngôi vua

Theo Thành Nam
ĐTCK

Cổ phiếu ngân hàng không dễ trở lại ngôi vị cổ phiếu vua trên thị trong niêm yết nếu nhìn vào triển vọng lợi nhuận của các ngân hàng trong thời gian tới.
Ngày 16/12 kế hoạch lướt sóng cổ phiếu ngân hàng sau chu kỳ T+4 của nhiều nhà đầu tư đã không thành hiện thực khi đua mua cổ phiếu ngân hàng giá trần sau ngày thông tin các ngân hàng nhỏ được gia hạn thêm thời gian tăng vốn điều lệ đến hết năm 2011 được công bố.
Hầu hết các cổ phiếu ngân hàng đều giảm điểm sau 3 - 4 phiên tăng trần với giá trị giao dịch lớn. Mức tăng giá của nhóm cổ phiếu này sau tuần giao dịch vừa qua là khoảng 10 - 15%.

Tuy nhiên, nguyên nhân của cơn sóng cổ phiếu ngân hàng lần này không xuất phát từ những lý do cơ bản có khả năng đến tác động hoạt động kinh doanh, triển vọng lợi nhuận của các ngân hàng niêm yết, mà chỉ là tác động về tâm lý của thông tin hoãn tăng vốn điều lệ cho ngân hàng nhỏ, mà phần lớn là các ngân hàng chưa niêm yết.

+ Nhìn lại một vài năm trước. Năm 2007, hệ thống ngân hàng có điều kiện thu lợi nhuận lớn nhờ sự bùng nổ của TTCK. Ngân hàng thành lập công ty chứng khoán, mang tiền đi đầu tư tài chính, hoặc đầu tư chéo vào ngân hàng khác hay trở thành cổ đông chiến lược của doanh nghiệp này, doanh nghiệp kia.

+ Sang năm 2008, dù khủng hoảng kinh tế xảy ra nhưng các ngân hàng có nguồn lợi nhuận từ đầu tư trái phiếu, mua lại trái phiếu giá rẻ từ các nhà đầu tư nước ngoài và lợi nhuận từ cho vay liên ngân hàng, với các ngân hàng lớn.


+ Năm 2009, kinh tế phục hồi, kênh đầu tư vàng và tăng trưởng tín dụng với gói tín dụng kích cầu đóng góp lớn vào tổng lợi nhuận của ngân hàng.

+ Còn năm 2010, tình hình có vẻ khó khăn hơn khi các ngân hàng đều thận trọng với tăng trưởng tín dụng. Sức ép thực hiện chỉ tiêu mới về an toàn vốn, trích lập dự phòng làm giảm tỷ suất lợi nhuận của ngân hàng.

Theo ông Nguyễn Văn Bảng, Chủ tịch HĐQT Ngân hàng Habubank, để phát triển bền vững, đảm bảo an toàn thì lợi nhuận của các ngân hàng hiện nay không thể cao như các năm trước.
Theo đánh giá của các chuyên gia, lạm phát năm 2010 có thể ngấp nghé con số 11%. Và lạm phát năm 2011 cũng là vấn đề cần ưu tiên kiểm soát, bởi nhiều mặt hàng cơ bản sẽ tăng giá theo lộ trình như điện, than.
Công ty Chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển nhận xét, về dài hạn, do tỷ lệ lạm phát của Việt Nam cao hơn lạm phát của Mỹ khiến đồng nội tệ luôn có xu hướng mất giá so với đồng USD. Việc kiềm chế lạm phát do đó cũng là một trong những biện pháp cần thiết để bình ổn tỷ giá ngoại tệ. Đây chính là lý do chính sách tiền tệ thắt chặt có thể tiếp tục thực hiện thêm một thời gian nữa trong quý I/2011.

Các ngân hàng phải huy động với lãi suất cao nhưng khó cho vay ra hoặc khó cho vay với lãi suất cao tương ứng, tăng trưởng tín dụng thấp làm ảnh hưởng đến kết quả lợi nhuận của ngân hàng nói chung.
Tuy nhiên, theo ông Huỳnh Anh Tuấn. Tổng giám đốc Công ty Chứng khoán SJC, trong thời điểm nền kinh tế tăng trưởng cao thì cổ phiếu ngân hàng là cơ hội đầu tư hấp dẫn. Tới đây, cổ phiếu ngân hàng sẽ là mục tiêu đầu tiên mà dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài hướng tới.Ông Tuấn nhận định, những cổ phiếu ngân hàng còn room sẽ thu hút dòng vốn nóng.
Còn trong tuần tới, cổ phiếu ngân hàng có tiếp tục hành trình đi lên. Tất cả cổ phiếu ngân hàng đang niêm yết đều có chỉ số PE dưới 10 và nhiều cổ phiếu có mức chi trả cổ tức hấp dẫn, thị giá thấp, thanh khoản tốt, nhưng vẫn không giữ được đà tăng giá. Như cổ phiếu HBB của Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội đang giao dịch ở mức giá 13 .000 đồng/cp đã dự kiến chi trả cổ tức 12%/năm trong năm 2010 và tăng dần trong các năm sau cũng vẫn giảm giá. Chỉ mới 1 - 2 phiên trước đó, nhà đầu tư mua cổ phiếu ngân hàng nhưng còn kỳ vọng rằng mua để ăn cổ tức.

Trong một thị trường nhiều biến động như TTCK Việt Nam thì cổ tức cao chỉ là cái cớ để giữ chân nhà đầu tư khi thị trường trầm lắng và mất thanh khoản. Khi thị trường sôi động, không nhà đầu tư nào nhìn vào cổ tức, bởi lợi nhuận từ biến động giá mỗi phiên giao dịch lớn hơn nhiều.

Mà cổ phiếu ngân hàng với đặc điểm nguồn cung lớn, mức độ đại chúng lớn, khó có thể tăng nóng kéo dài như cổ phiếu các ngành khác (có thể tăng nóng bởi bàn tay làm giá). Vì vậy, kỳ vọng vào mức tăng giá của cổ phiếu ngân hàng ở mỗi đợt tăng là không nhiều.
Theo Thành Nam
ĐTCK

Chúc mọi người thành công.
Hãy để lại lời góp ý của mình bằng cách Click vào nhận xét, sau đó để lại lời góp ý, (có thể chọn 1 hộp thư để đăng ký hoặc chọn mục Nặc danh các bạn nhé).

Thứ Ba, 14 tháng 12, 2010

"Cơn mưa rào" - giải hạn

"Cơn mưa rào" - giải hạn
chungkhoanmoingay
Trong bối cảnh "đìu hiu chợ chiều" của TTCK VN năm 2010, có thể nói quyết định hoãn "THI HÀNH ÁN" với các TCTD thông qua việc sửa đổi Nghị Định 141 của NNHN trong dịp cuối năm con Hổ là một giải pháp đúng đắn được các nhà đầu tư hưởng ứng nhiệt liệt. Việc sửa đổi này ngay lập tức tác động đến vùng trũng của bức tranh kinh tế Việt Nam. Nguồn nước mát lạnh đến tê người đối với dân 'lướt sóng" để một lần nữa "Và ta lại thấy Mặt trời rạo rực trên môi em", để nụ cười rạng rỡ trên mỗi gương mặt của các nhà đầu tư đã lỡ bị "sóng đè" muốn ngộp thở kể từ sau thời kì khủng hoảng 2008.

Trên bình diện bức tranh còn chưa mang màu sắc tươi sáng của nền kinh tế Việt Nam nói riêng và Thế Giới nói chung, những vấn đề nóng bỏng mang tính thời sự dường như ít nhiều đã có sự đổi màu nhất định khi vào cuối năm con Hổ này. Niềm vui lại đến, hữu sự nhân đôi. Đội tuyển bóng đá Việt Nam với AFF Cúp với tâm thế ngày càng được nâng cao, gam màu mới với nghị định 141 như một luồng gió mới thổi vào TTCK Việt Nam với kỉ lục gần 106 triệu CP được trao tay (07.05.2010) tương ứng bị xô ngã với giao dịch "hàng khủng"  và 133.2 triệu CP (14.12.2010) tương ứng hơn 3.236 tỉ ở sàn HOSE trong vòng 1 năm qua. Đỉnh này sấp xỉ đỉnh cũ thiết lập ngày 23.10.2009 (gần 133.5 triệu CP). Các tín hiệu kỹ thuật dường như không còn đi theo những qui luật thường thấy mà chủ yếu bị chi phối bởi tâm lý. Mà cũng phải thôi, khi "hạn hán" kéo dài thì chỉ cần một cơn mưa rào cũng đã nuôi lớn được nhưng "cây xương rồng" trong một thời gian dài sau đó. 
Chỉ có điều mà chúng ta khó nuốt nổi đó chính là bài học khá đắt bởi những chính sách thiếu nhất quán và đồng bộ. Mong sao việc khơi thông dòng vốn này phải nằm trong sự quản lý chặt chẽ của NHNN và chính phủ nhằm hạn chế những sai lầm rủi ro trong việc điều hành chính sách của nền kinh tế vừa gượng dậy sau "cơn bệnh". Đừng để niềm tin NĐT lại một lần nữa "bị đánh cắp"

Chúc mọi người thành công.
Bài này xuất bản từ: http://www.chungkhoanmoingay.blogspot.com (bản gốc). Mọi trích dẫn xin đính kèm địa chỉ này. (Bản quyền tác giả giữ).
Hãy để lại lời góp ý của mình bằng cách Click vào nhận xét, sau đó để lại lời góp ý, (có thể chọn 1 hộp thư để đăng ký hoặc chọn mục Nặc danh các bạn nhé).

Gia hạn thời gian tăng vốn điều lệ của các TCTD theo Nghị định 141


Gia hạn thời gian tăng vốn điều lệ của các TCTD theo Nghị định 141
Nguồn tin gốc (14/12/2010)
Liên quan đến vấn đề tăng vốn điều lệ của các tổ chức tín dụng theo Nghị định số 141/2006/NĐ-CP ngày 22/11/2006, Phóng viên Website Ngân hàng Nhà nước đã có cuộc phỏng vấn Ông Dương Quốc Anh - Chánh Thanh tra, giám sát Ngân hàng. Cụ thể như sau:
Câu hởi 1: Sự cần thiết của việc yêu cầu các TCTD tăng vốn điều lệ?
Trả lời: Tại Việt Nam, gần 20 năm qua, khi hệ thống các TCTD Việt Nam được định hình và từng bước đa dạng hoá các loại hình TCTD, vấn đề nâng cao năng lực tài chính của các TCTD luôn được các cơ quan chức năng đặt ra như là một vấn đề cốt lõi không chỉ của từng TCTD mà còn là mục tiêu của cả hệ thống tài chính ngân hàng. Vấn đề này trở nên đặc biệt quan trọng hơn khi Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới. Bởi vì có nâng cao năng lực tài chính mới có thể tạo ra thực lực để hệ thống tài chính ngân hàng Việt Nam nâng cao được khả năng chống đỡ rủi ro, nâng cao năng lực cạnh tranh trong khi cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt và trên diện rộng.
Bên cạnh đó, kể từ khi ban hành Pháp lệnh ngân hàng và 02 Luật vào những năm 90, hệ thống Ngân hàng đã có thêm một bước tiến mới về sự đa dạng các loại hình TCTD. Tuy nhiên, sau một thời gian hoạt động, các TCTD đã có sự phân hoá rõ rệt về năng lực hoạt động mà chủ yếu lại bắt nguồn từ năng lực tài chính. Thực tế,  các TCTD có quy mô vốn nhỏ, nhìn chung lại là những đối tượng phải đặc biệt quan tâm, hỗ trợ từ phía các cơ quan quản lý, nhất là khi có biến cố bất thường của thị trường và sự đổi mới về cơ chế chính sách. Vì vậy, việc sàng lọc để duy trì các TCTD mạnh về tài chính, có khả năng quản trị điều hành để tồn tại vững vàng trên thị trường, loại bỏ những nhân tố yếu kém là một trong những mục tiêu dài hạn mà ngành Ngân hàng và Chính phủ đặt ra. Theo đó, việc yêu cầu các TCTD tăng năng lực tài chính thông qua việc tăng vốn điều lệ còn là một giải pháp hữu hiệu để góp phần quy hoạch lại hệ thống các TCTD.
Do vậy, việc yêu cầu các TCTD tăng vốn điều lệ để nâng cao năng lực tài chính là một giải pháp đúng đắn, phù hợp với bối cảnh nền kinh tế và hoạt động của hệ thống các TCTD tại thời điểm ban hành Nghị định số 141 và phù hợp với chủ trương trong dài hạn của Đảng, Chính phủ và NHNN nhằm xây dựng hệ thống tài chính ngân hàng hoạt động ổn định và phát triển bền vững.
Nghị định số 141 cũng quy định rất cụ thể mức vốn pháp định và lộ trình tăng vốn điều lệ đối với từng loại hình TCTD để đảm bảo mức vốn pháp định này. Theo đó,  các TCTD có thời gian 4 năm (Nghị định được ban hành ngày 22/11/2006) để thực hiện việc tăng vốn điều lệ với 2 giai đoạn cụ thể (giai đoạn 1 kết thúc 31/12/2008 và giai đoạn 2 kết thúc 31/12/2010) – Quy định này đã cho phép các TCTD có thời gian để chủ động kế hoạch tăng vốn điều lệ của mình, chủ động điều chỉnh tăng quy mô vốn phù hợp với quy mô hoạt động và năng lực quản trị điều hành, có cơ sở đảm bảo việc tăng vốn điều lệ góp phần tăng năng lực tài chính, đồng thời duy trì TCTD hoạt động an toàn, hiệu quả.  
Câu hỏi 2: Khi triển khai việc tăng vốn điều lệ theo Nghị định 141, các TCTD gặp những khó khăn vướng mắc gì? Và quan điểm của NHNN đối với việc tiếp tục yêu cầu các TCTD thực hiện tăng vốn điều lệ theo Nghị định này.
Trả lời:
a. Một số khó khăn khi triển khai việc tăng vốn theo Nghị định 141:
Tăng vốn điều lệ để đảm bảo mức vốn pháp định theo Nghị định 141 của Chính phủ là nhiệm vụ trọng tâm của toàn ngành Ngân hàng trong năm 2010.
Về phía cơ quan quản lý, NHNN đã bám sát quy định tại Nghị định 141 để chỉ đạo các TCTD thực hiện thành công việc tăng vốn điều lệ giai đoạn 1 (kết thúc ngày 31/12/2008). Trong giai đoạn 2, NHNN tiếp tục xây dựng lộ trình cụ thể chỉ đạo các TCTD sớm hoàn tất các thủ tục pháp lý  làm cơ sở triển khai việc tăng vốn điều lệ trong năm 2010 (yêu cầu chậm nhất 30/6/2010, các TCTD phải trình NHNN hồ sơ đề nghị tăng vốn điều lệ). Theo đó, đến cuối tháng 9/2010, hầu hết các TCTD đã được NHNN có văn bản chấp thuận về vấn đề này.
Về phía các TCTD, tất cả các TCTD thời gian qua đều đã và đang rất nỗ lực để hoàn thành việc tăng vốn điều lệ theo đúng lộ trình quy định của Chính phủ. Nhiều TCTD đã thể hiện được khả năng chắc chắn hoàn thành việc tăng vốn đúng thời hạn quy định. Tuy nhiên, quá trình tăng vốn điều lệ đã chịu tác động của một số nguyên nhân khách quan, khiến việc tăng vốn điều lệ từ các nguồn khác nhau của nhiều TCTD trong nước gặp phải một số khó khăn. Một số khó khăn có thể kể đến là:
(i) Bối cảnh nền kinh tế thế giới sau khủng hoảng và thị trường tài chính trong nước có nhiều biến động đến nay chưa có nhiều dấu hiệu khả quan – điều này dẫn đến thị trường chứng khoán trong suốt một thời gian dài hoạt động cầm chừng, trong khi nhiều ngân hàng cùng tăng vốn một lúc, làm cho cổ phiếu ngân hàng không còn hấp dẫn nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Bản thân các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là nhà đầu tư tổ chức cũng gặp khó khăn trong việc mở rộng đầu tư ra các quốc gia khác. Vì thế hầu hết các nguồn tăng vốn điều lệ chủ yếu của TCTD như phát hành cổ phiếu cho các cổ đông hiện hữu, phát hành ra công chúng hay phát hành cho các nhà đầu tư nước ngoài đều không thuận lợi.
(ii) Bên cạnh đó, chủ trương của Chính phủ trong việc hạn chế các Tổng công ty, doanh nghiệp Nhà nước góp vốn ra ngoài lĩnh vực chính và yêu cầu các doanh nghiệp này thoái vốn tại các TCTD để tập trung vào hoạt động kinh doanh chủ yếu cũng là một khó khăn lớn cho các TCTD cổ phần có cổ đông hiện hữu là các Tổng công ty, doanh nghiệp Nhà nước này khi thực hiện tăng vốn điều lệ.
(iii) Ngoài ra, một số TCTD cổ phần đã niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán cũng gặp phải một số quy định về thời gian khi phát hành cổ phiếu ra công chúng mà không thể hoàn tất việc tăng vốn điều lệ đúng thời hạn quy định.
b. Quan điểm của NHNN đối với việc yêu cầu tiếp tục thực hiện tăng vốn điều lệ theo Nghị định 141:
Việc yêu cầu các TCTD tăng vốn điều  lệ để nâng cao năng lực tài chính là một chủ trương đúng đắn, có giá trị dài hạn, cần phải tiếp tục nhất quán thực hiện mục tiêu này. Những khó khăn vướng mắc là khách quan, tạm thời và có tính thời điểm. Do vậy, NHNN đã chủ động báo cáo và đề nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét, giãn tiến độ tăng vốn điều lệ cho các TCTD theo  mục tiêu định hướng sau:
- Tiếp tục duy trì mục tiêu tăng vốn điều lệ để nâng cao năng lực tài chính của các TCTD.
- Tiếp tục khuyến khích các TCTD tăng vốn điều lệ để sớm đạt được mức vốn pháp định.
- Giảm bớt áp lực về thời gian tăng vốn cho các TCTD chưa thể tăng đủ ngay mức vốn pháp định, nhưng đảm bảo có sự công bằng đối với những TCTD thời gian qua đã nỗ lực tăng vốn để đảm bảo đủ mức vốn pháp định theo chỉ đạo của Chính phủ và NHNN.
Đồng thời NHNN đã đưa ra một số giải pháp cụ thể để thực hiện mục tiêu nêu trên.
Chấp thuận phương án đề xuất của NHNN, Thủ tướng Chính phủ đã có  chỉ đạo giao NHNN phối hợp cùng các cơ quan liên quan trình Chính phủ trước ngày 15/12/2010 việc sửa đổi, bổ sung Nghị định 141 theo hướng gia hạn thời gian tăng vốn điều lệ cho các TCTD đến 31/12/2011.
Hiện nay NHNN đang khẩn trương thực hiện chỉ đạo trên đây của Thủ tướng Chính phủ./.
PV Website NHNN

Thứ Năm, 9 tháng 12, 2010

Một số chỉ báo xu hướng trong phân tích kỹ thuật


Một số chỉ báo xu hướng trong phân tích kỹ thuật
Sưu tầm



1. Chỉ báo Aroon
Là một chỉ báo được viết bởi Tusher Chande. Aroon tiếng Phạn (Sanskrit) có nghĩa là "Bình minh ló sáng" hay "hoàng hôn sớm mai". Aroon cho phép người sử dụng biết trước sự thay đổi giá của cổ phần trong một phạm vi xu hướng đang diễn ra. Có nhiều thông tin về chỉ số này trong tạp chí Technical Analysis of Stocks & Commodities xuất bản tháng 9/1995 do ông Tushar Chande viết.
Sự thay đổi biết trước này được đo lường bởi số phiên (periods) đã diễn ra trước đó, cụ thể là: x-phiên cao và x-phiên thấp nhất. Aroon gồm có hai đường; một là để diễn tả x-phiên cao (Aroon Up) và đường kia diễn tả x-phiên thấp (Aroon Down).
Thực tế nó được vẽ giống như “stochastic” và được tỉ lệ trong phạm vi từ 0 đến 100. Chúng được mặc định giá trị là 14 phiên. Nếu là cổ phần tăng trong 14 phiên liên tục thì Aroon Up =100, khi cổ phần đó giảm 14 phiên liên tục thì Aroon Down = 100. Nếu cổ phần đó không tăng 14 phiên thì Aroon Up = 0 và không giảm 14 phiên thì Aroon Down = 0.
Giải thích cho dễ hiểu: một phần nhỏ trong những vấn đề lâu đời của hệ thống mua bán (trading system) là khó xác định xu hướng đang diễn ra hoặc phạm vi đang mua bán của thị trường có sẵn: Chỉ báo tiếp tục xu hướng cũng giống như là MACD và Moving Averages, các bẫy của thị trường (whipsaw) hoặc không có xu hướng, bế tắc, các vùng quá mua (overbought), quá bán (oversold). Chỉ báo Aroon sẽ giúp chúng ta xác định xu hướng tiếp tục hoặc chỉ dẫn các vùng quá mua, quá bán rất tốt.
+ Cách sử dụng
Có 3 trạng thái cơ bản nhất về chỉ số Aroon: mức độ cao nhất tại 0 đến 100, so sánh sự di chuyển giữa Aroon Up và Aroon Down, điểm giao cắt giữa  Aroon Up và Aroon Down.
a. Mức độ: Khi Aroon Up ở lằn 100 thì cho biết cường độ là rất mạnh. Nếu Aroon Up liên tục ở vùng giữa 70 và 100 thì đó là một cái xu hướng tăng. Tương tự như thế nếu Aroon Down ở lằn 100 thì cho biết khả năng là yếu nhất, nếu Aroon Down liên tục ở vùng 70 đến 100 thì đó là một xu hướng giảm.
Một xu hướng tăng giá mạnh là Aroon Up phải liên tục nằm trong vùng giữa 70 và 100 trong khi Aroon Down phải liên tục nằm trong vùng giữa 0 và 30. Tương tự như vậy cho xu hướng giảm giá mạnh.
b. So sánh sự di chuyển: mỗi khi Aroon Up và Aroon Down di chuyển song song (xấp xỉ tại những mức giống nhau) là củng cố xu hướng cho đến khi mức độ được xác lập hay điểm giao cắt giữa chúng xảy ra.
c. Điểm giao cắt: Khi Aroon Down cắt trên Aroon Up thì cho biết khả năng là yếu nhất, giá sẽ bắt đầu giảm mạnh . Khi Aroon Up cắt trên Aroon Down thì khả năng là mạnh nhất, giá sẽ bắt đầu tăng.
+ Ví dụ minh họa
Với hình dưới chúng ta thấy những vùng màu xanh lá là những thời kỳ có xu hướng tăng rất mạnh, còn những vùng màu tím là thời kỳ có xu hướng giảm giá mạnh. Còn hiện tại là xu hướng tăng nhưng yếu (vì Aroon Down không nằm trong vùng 0-30).
Hình 01 - Chỉ báo Aroon
2. Directional movement index (DMI)
+ Sử dụng kết hợp với Average Directional Index (ADX)
Đây là chỉ báo tiếp theo của xu hướng thị trường được ông Welles Wilder chế tạo ra, công thức tính tóan hết sức rắc rối và khó hiểu nhưng may thay nó lại rất dễ sử dụng.
ADX khi được kết hợp với cặp +DMI (chỉ số hướng tích cực) và -DMI (chỉ số hướng tiêu cực) sẽ cung cấp đầy đủ và chính xác cho hệ thống mua bán (trading system). Nó có thể sẽ trở thành 1 chỉ báo đầy đủ chi tiết trong 1 không gian giới hạn nhưng vẫn thỏa mãn được những khái niệm chung.
Đầu tiên chúng ta cần nói về directional movement indicator (chỉ số hướng vận động) + hoặc -DM. Nó được định nghĩa đơn giản như là phần lớn nhất hướng ra ngòai phía trước phạm vi xác định. Nếu là ở mức cao thì nó là hướng vận động tích cực (+DM), còn thấp thì là hướng vận động tiêu cực (-DM). DM có giá trị 0 khi sự giao động trong phạm vi là nhỏ.
Nói 1 cách chính xác hơn thì chỉ số này được tính tóan trên cơ sở là chỉ số trung bình của +DMI và -DMI trong phạm vi đang xét. Thông thường nó sẽ có giá trị từ 0 cho đến 100 bởi vì nó chỉ là 1 chỉ số có giá trị thuần túy củ đường hướng lên hay xuống của thị trường, số dương hay âm biểu thị cho sự vận động lên hay xuống của thị trường.
Chỉ số DMI gồm 2 đường thẳng khác biệt, và thường được sử dụng đường dưới -DMI là màu đỏ, đường trên +DMI là màu xanh.
+ Average Directional Index (ADX)
Bước tiếp theo là ta tính tóan chỉ số hướng (direction index) bao gồm: +DMI và -DMI, nó tỉ lệ với nhau trong cùng 1 phạm vi. Nó biểu thị cho vùng trung bình giữa 2 vùng tăng và giảm của xu hướng thị trường. Nó được cấu tạo bởi 2 chỉ báo +DI và -DI. DX là được tính tóan bở sự chênh lệch của 2 chỉ báo này, lấy tổng 2 chỉ báo này chia cho 100 ta được con số phần trăm, con số này sẽ giao động từ 1cho tới 50. Làm trơn chỉ số này trong thị trường ngắn hạn, Wilder đã dùng kỹ thuật trung bình và đã tính tóan ra chỉ số ADX.
+ Cách sử dụng
a. Đầu tiên ta có tín hiệu mua khi +DMI cắt và nằm trên -DMI (lưu ý giá có qua điểm cực đại trước khi mua hay không), tín hiệu bán khi -DMI cắt và nằm trên +DMI.
b. Tính hiệu cắt của DMI cho tín hiệu bán rất chính xác khi thị trường đang trong 1 xu thế rõ ràng (trending market), và không chính xác khi thị trường ảm đạm, không có xu hướng (sideways market). Wilder đưa ra cách sử dụng khi thị trường đang trong 1 xu hướng. Khi ADX tăng và điểm tăng phải trên +DMI và -DMI. Nếu điểm tăng này ở giá trị cao thì đường giá sẽ chống lại với xu hướng cơ bản. Điều đáng nhớ là ADX là chỉ báo xu hướng nhưng nó không phản ánh hướng đi của xu hướng.
Trong ví dụ dưới đây, ngay tại đường thẳng đứng đầu tiên cho signal sell (vì có sự cắt của DMI), cái signal sell này được hỗ trợ bởi ADX vì tại điểm này ADX cao hơn các giá trị +/-DMI. Đây là sự đảo chiềucủa xu hướng nhằm củng cố thị trường nó tương tự như tình trạng không xu hướng (non-trending) hay ảm đạm (sideways market). Tiếp đó ở đường thẳng đứng thứ 2 là 1 tín hiệu mua (+DMI cắt và nằm trên -DMI), ngay tại đó giá trị của ADX vẫn cao hơn giao điểm của DMI và vẫn lớn hơn 20 (vẫn là 1 xu hướng)
DMI là 1 chỉ báo được duy trì phần lớn khi thị trường là tăng (bull market), còn ADX tăng là chỉ báo thị trường sẽ tiếp tục xu hướng hiện hành. 

Hình 02 - Directional movement index (DMI)

3. Parabolic SAR
Đây là chỉ báo rất tốt về xu hướng tiếp theo của thị trường, một câu châm ngôn của những nhà đầu tư nhiều kinh nghiệm là "Xu hướng là bạn của chúng ta". Welles Wilder cho đây là chỉ báo đảo chiều (reversal) đáng tin cậy về mặt thời gian/giá. Nó bao gồm một lọat các điểm gọi là các điểm Stop And Reverse (SAR). Nếu phá vỡ những mức bảo vệ này thì thị trường sẽ được coi là đảo chiều.
Giống như giá bắt đầu 1 xu hướng thì những điểm SAR cũng bắt đầu chuyển động chậm vượt ra ngòai và hình thành 1 xu hướng đi lên.
Công thức tính toán
SAR tomorrow = SAR today + AF (EP trade – SAR today)
Trong đó
  • AF bắt đầu là 0.02 (giá trị mặt định) và sau khi tăng thêm 0.02 cho mỗi thanh giá và hướng tăng đột biến cho đến khi giá trị nó là 0.2.
  • EP = điểm tăng giá quá xa. Mỗi khi giá tăng trong 1 xu hướng tăng giá nó sẽ thiết lập ghi nhớ các vị trí hiện hành. Ngược lại khi thị trường xuống giá thì nó sẽ ghi nhớ những điểm đặt đó.
Đây là chỉ báo giúp cho nhà đầu tư hiểu rõ 1 xu hướng. Nó là 1 chỉ báo dễ sử dụng. Một điều hiển nhiên là đường giá luôn đi xuyên qua SAR trong mọi hướng. Nhà đầu tư nên dừng lại và suy ngẫm khi SAR bị xuyên qua.
Dưới đây là ví dụ cụ thể, các vị trí được đánh dấu cho thấy đường giá đi xuyên qua các đường SAR (màu đỏ).
Hình 03 - Parabolic SAR

4. Trend Channels – Kênh xu hướng
+ Cấu tạo
Kênh xu hướng bắt đầu từ đường xu hướng cơ bản và 1 đường song song tạo ra phần bên trong chứa đường giá. Trong trường hợp kênh xu hướng tăng, thì được vẽ bởi một đường xuyên qua các đỉnh và một đường song song sao cho phần bên trong ôm hết đường giá. Trong trường hợp kênh xu hướng giảm được vẽ bởi một đường xu hướng nối các đáy và một đường song song sao cho phần bên trong ôm hết đa số đường giá.
+ Cách sử dụng
  • Kênh xu hướng có thể sử dụng như là mục tiêu của các chỉ báo, nó định hướng được phạm vi mà khả năng đường giá di chuyển được.
  • Trong phần xu hướng thị trường, đôi lúc rất khó tìm đường hỗ trợ hay kháng cự, đặc biệt là thị trường đang tăng hoặc giảm. Khi thị trường đang tăng hay giảm đường giá chạy bên trong kênh xu hướng ta dễ dàng xác định được đỉnh hay đáy qua kênh xu hướng.
Nếu đường giá nằm ngòai kênh xu hướng và tiếp tục hướng đi đó ta có thể mở rộng kênh xu hướng hiện tại để dự đóan các điểm tiếp theo của giá hướng tới. Khi đường xu hướng bị gãy ta có thể sử dụng chúng như là 1 đường hỗ trợ hay kháng cự.
Hình 04 - Trend Channels – Kênh xu hướng
+ Biến tấu
Kênh xu hướng sử dụng để giới hạn sự nhấp nhô của giá, nhưng nó không đảm bảo độ chính xác đáng tin cậy. ví dụ dưới đấy cho thấy thị trường có thể tạo ra nhiều kên xu hướng nhỏ (kênh xu hướng phụ) trong một kênh xu hướng chính lớn và nó rất thường xảy ra nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Nó không chỉ là đường giá giảm trong kênh xu hướng giảm mà đôi lúc giá tăng trong kênh xu hướng giảm.

Hình 05 - Trend Channels – biến tấu kênh xu hướng

Đôi lúc các nhà đầu tư không quan tâm giá trị vượt qua kênh xu hướng này, mà đa số là dè dặt khi đường giá vượt ra khỏi kênh xu hướng. Khi đường giá từ dưới vượt qua kênh xu hướng và nó bẻ gãy kênh xu hướng tạo ra điểm thoát (breakout) và lúc đó kênh xu hướng sẽ trở thành đường hỗ trợ hay kháng cự.


Chúc mọi người thành công.
Hãy để lại lời góp ý của mình bằng cách Click vào nhận xét, sau đó để lại lời góp ý, (có thể chọn 1 hộp thư để đăng ký hoặc chọn mục Nặc danh các bạn nhé).

Lý Thuyết Dow


Lý Thuyết Dow

Sưu tầm

Những biến động thị trường với mọi xu hướng đều có thể được dự đoán trước trên cơ sở biến động giá trên các biểu đồ.
Phần lớn các chứng khoán tuân theo xu hướng cơ bản của thị trường.
Xu thế xu hướng cơ bản của thị trường được hiểu là “chỉ số giá bình quân” - phản ánh xu thế chung của một số cổ phiếu đại diện cho thị trường.
Các tiền đề:
Chỉ sử dụng giá đóng cửa: Giá phản ánh là giá đóng cửa, có thể dự đoán được, và tác động đến mối quan hệ cung cầu của thị trường.
Sử dụng chỉ số trung bình: Chỉ số trung bình là trung bình hóa tất cả:
* Các biến động từng ngày.
* Các điều kiện tác động lên cung - cầu các cổ phiếu.
* Những quyết định đầu tư bất ngờ không dự đoán được.
Giải thích lý thuyết Dow
Lý thuyết Dow được xây dựng dựa trên 6 nguyên lý cơ bản:
Nguyên lý 1:
* Gồm mọi thông tin: các yếu tố về kinh tế, chính trị, các yếu tố tâm lý, khả năng tăng trưởng lợi nhuận của công ty.
* Tất cả các kiến thức của tất cả những người tham gia vào thị trường (nhà giao dịch, nhà đầu tư, nhà quản trị danh mục…).
Nguyên lý 2:
Thị trường có 3 sự chuyển dịch
1. Sự dịch chuyển chính: (primary movement)
* Thị trường đầu cơ giá lên: (bull market)
Là sự dịch chuyển lên trên một cách rộng lớn, ít nhất là 18 tháng.
* Thị trường đầu cơ giá xuống: (bear market)
Là một sự giảm giá kéo dài và sẽ ngừng lại khi có những sự phục hồi đáng kể trong giá cổ phiếu.
2. Những phản ứng thứ cấp:
* Là sự sụt giảm quan trọng trong thị trường đầu cơ giá lên hoặc một sự tăng giá quan trọng trong thị trường đầu cơ giá xuống.
* Khoảng thời gian dịch chuyển nhìn chung thoái lùi từ 33% - 66% (1/3 đến 2/3).
* Kéo dài từ 3 tuần đến nhiều tháng, thông thường 3 tháng.
* Nó chỉ quan trọng trong việc hình thành nên một phần của sự dịch chuyển chính cũng như dịch chuyển thứ cấp.
3. Những sự dịch chuyển nhỏ: (minor movements)
Sự dịch chuyển này thể hiện như là một biến động nhẹ trong giá qua các ngày giao dịch, thời gian diễn ra rất ngắn.
Nguyên lý 3:
Mỗi xu hướng thường xảy ra trong ba giai đoạn riêng biệt.
Trong thị trường giá lên có 3 giai đoạn.
* Giai đoạn tích lũy: thể hiện việc mua có hiểu biết các nhà đầu tư tinh thông.
* Giai đoạn tham gia công chúng: xảy ra khi các mức giá bắt đầu gia tăng một cách nhanh chóng và những tin tức kinh doanh sẽ được cải thiện.
* Giai đoạn phân phối: khi những tin tức kinh tế trở nên tốt hơn và khi khối lượng có tính chất đầu cơ và sự tham gia công chúng gia tăng.
Trong thị trường giá xuống có 3 giai đoạn:
* Giai đoạn phân phối
* Giai đoạn hoảng loạn
* Giai đoạn bán bắt buộc
Nguyên lý 4:
* Các mối quan hệ giá và khối lượng tạo ra nền tảng cơ bản.
* Mối quan hệ cơ bản là khối lượng tăng khi giá phục hồi và thu hẹp khi giá giảm.
* Nếu khối lượng trở nên ứ đọng khi giá tăng và gia tăng khi giá giảm, cảnh báo rằng xu hướng chính sớm bị đảo ngược.
Nguyên lý 5:
Dấu hiệu tăng giá được đưa ra khi sự tăng giá liên tiếp tạo ra các đỉnh cao hơn và sự giảm giá xen vào tạo thành các đáy cao hơn. Và ngược lại đối với dấu hiệu giảm giá.
Nguyên lý 6:
Phải biết kết hợp chỉ số của các ngành tương hỗ cho nhau.
Vd:
* Chỉ số bình quân ngành công nghiệp: là trung bình giá của 20 cổ phiếu công nghiệp của Mỹ.
* Chỉ số bình quân ngành giao thông vận tải (Transportation): là trung bình giá của 12 cổ phiếu ngành giao thông vận tải Mỹ.
* Trong một nền kinh tế phát triển khi ngành công nghiệp phát triển thì ngành giao thông vận tải cũng phát triển theo nên 2 chỉ số bình quân ngành công nghiệp và bình quân ngành giao thông vận tải sẽ củng cố lẫn nhau.
(Nguồn tổng hợp)
Chúc mọi người thành công.
Hãy để lại lời góp ý của mình bằng cách Click vào nhận xét, sau đó để lại lời góp ý, (có thể chọn 1 hộp thư để đăng ký hoặc chọn mục Nặc danh các bạn nhé).