Lý Thuyết Dow
Sưu tầm
Những biến động thị trường với mọi xu hướng đều có thể được dự đoán trước trên cơ sở biến động giá trên các biểu đồ.
Phần lớn các chứng khoán tuân theo xu hướng cơ bản của thị trường.
Xu thế xu hướng cơ bản của thị trường được hiểu là “chỉ số giá bình quân” - phản ánh xu thế chung của một số cổ phiếu đại diện cho thị trường.
Các tiền đề:
Chỉ sử dụng giá đóng cửa: Giá phản ánh là giá đóng cửa, có thể dự đoán được, và tác động đến mối quan hệ cung cầu của thị trường.
Sử dụng chỉ số trung bình: Chỉ số trung bình là trung bình hóa tất cả:
* Các biến động từng ngày.
* Các điều kiện tác động lên cung - cầu các cổ phiếu.
* Những quyết định đầu tư bất ngờ không dự đoán được.
Giải thích lý thuyết Dow
Lý thuyết Dow được xây dựng dựa trên 6 nguyên lý cơ bản:
Nguyên lý 1:
* Gồm mọi thông tin: các yếu tố về kinh tế, chính trị, các yếu tố tâm lý, khả năng tăng trưởng lợi nhuận của công ty.
* Tất cả các kiến thức của tất cả những người tham gia vào thị trường (nhà giao dịch, nhà đầu tư, nhà quản trị danh mục…).
Nguyên lý 2:
Thị trường có 3 sự chuyển dịch
1. Sự dịch chuyển chính: (primary movement)
* Thị trường đầu cơ giá lên: (bull market)
Là sự dịch chuyển lên trên một cách rộng lớn, ít nhất là 18 tháng.
* Thị trường đầu cơ giá xuống: (bear market)
Là một sự giảm giá kéo dài và sẽ ngừng lại khi có những sự phục hồi đáng kể trong giá cổ phiếu.
2. Những phản ứng thứ cấp:
* Là sự sụt giảm quan trọng trong thị trường đầu cơ giá lên hoặc một sự tăng giá quan trọng trong thị trường đầu cơ giá xuống.
* Khoảng thời gian dịch chuyển nhìn chung thoái lùi từ 33% - 66% (1/3 đến 2/3).
* Kéo dài từ 3 tuần đến nhiều tháng, thông thường 3 tháng.
* Nó chỉ quan trọng trong việc hình thành nên một phần của sự dịch chuyển chính cũng như dịch chuyển thứ cấp.
3. Những sự dịch chuyển nhỏ: (minor movements)
Sự dịch chuyển này thể hiện như là một biến động nhẹ trong giá qua các ngày giao dịch, thời gian diễn ra rất ngắn.
Nguyên lý 3:
Mỗi xu hướng thường xảy ra trong ba giai đoạn riêng biệt.
Trong thị trường giá lên có 3 giai đoạn.
* Giai đoạn tích lũy: thể hiện việc mua có hiểu biết các nhà đầu tư tinh thông.
* Giai đoạn tham gia công chúng: xảy ra khi các mức giá bắt đầu gia tăng một cách nhanh chóng và những tin tức kinh doanh sẽ được cải thiện.
* Giai đoạn phân phối: khi những tin tức kinh tế trở nên tốt hơn và khi khối lượng có tính chất đầu cơ và sự tham gia công chúng gia tăng.
Trong thị trường giá xuống có 3 giai đoạn:
* Giai đoạn phân phối
* Giai đoạn hoảng loạn
* Giai đoạn bán bắt buộc
Nguyên lý 4:
* Các mối quan hệ giá và khối lượng tạo ra nền tảng cơ bản.
* Mối quan hệ cơ bản là khối lượng tăng khi giá phục hồi và thu hẹp khi giá giảm.
* Nếu khối lượng trở nên ứ đọng khi giá tăng và gia tăng khi giá giảm, cảnh báo rằng xu hướng chính sớm bị đảo ngược.
Nguyên lý 5:
Dấu hiệu tăng giá được đưa ra khi sự tăng giá liên tiếp tạo ra các đỉnh cao hơn và sự giảm giá xen vào tạo thành các đáy cao hơn. Và ngược lại đối với dấu hiệu giảm giá.
Nguyên lý 6:
Phải biết kết hợp chỉ số của các ngành tương hỗ cho nhau.
Vd:
* Chỉ số bình quân ngành công nghiệp: là trung bình giá của 20 cổ phiếu công nghiệp của Mỹ.
* Chỉ số bình quân ngành giao thông vận tải (Transportation): là trung bình giá của 12 cổ phiếu ngành giao thông vận tải Mỹ.
* Trong một nền kinh tế phát triển khi ngành công nghiệp phát triển thì ngành giao thông vận tải cũng phát triển theo nên 2 chỉ số bình quân ngành công nghiệp và bình quân ngành giao thông vận tải sẽ củng cố lẫn nhau.
(Nguồn tổng hợp)
Chúc mọi người thành công.
Liên hệ: chungkhoanmoingay@gmail.com
Hãy để lại lời góp ý của mình bằng cách Click vào nhận xét, sau đó để lại lời góp ý, (có thể chọn 1 hộp thư để đăng ký hoặc chọn mục Nặc danh các bạn nhé).
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét